Trang Chủ » Các bài viết mục Du Học
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du Học. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013
Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013
- 0 Bình luận
Praha là thủ đô và thành phố lớn nhất Cộng hòa Séc. Người Praha tự hào gọi đây là một trong những thành phố xinh đẹp và quyến rũ nhất châu Âu.
Dấu vết thời Xô Viết
Praha nổi tiếng với 18 cây cầu bắc ngang con sông Vltava, hai bên bờ là những nhà thờ mái vòm cổ kính, những ngọn tháp mạ vàng trên đỉnh, tòa lâu đài hàng nghìn năm tuổi mang phong cách La Mã, Gothic và dòng sông mềm mại uốn lượn xuyên qua thành phố.
Được mệnh danh là thành phố vàng, người Praha tự hào gọi đây là một trong những thành phố xinh đẹp và quyến rũ nhất châu Âu, Praha đã thu hút nhiều triệu lượt khách đến thăm mỗi năm, và được tặng cho những mỹ từ như “thành phố vàng”, “vương miện của thế giới”, “thành phố của trăm đỉnh tháp”… Và cũng giống như thành Rome được xây dựng trên 7 ngọn đồi, Praha được xây dựng trên 9 ngọn đồi dọc theo sông Vltava.
Praha được thành lập trên giao lộ của tuyến đường thương mại cổ xưa, nơi giao thoa của các nền văn hóa và tâm linh khác nhau.
Tôi đến nhà trọ (hostel) “Mr. Tobby” ngay gần trung tâm. Nhìn từ cửa sổ phòng nghỉ, Praha vẫn còn mang dấu vết của thời Xô Viết cũ với những poster lớn in hình anh bộ đội, cô công nhân giơ tay quyết chiến quyết thắng, bên cạnh là hình cờ búa liềm.
Thú vị nhất là khi bước xuống vườn ngay sau nhà để thưởng thức tách cà phê sáng, tôi phát hiện tất cả bàn ở đây đều được “cải tiến” từ những chân máy khâu cũ thời XHCN. Không hiểu đây là một kiểu trang trí cổ điển có ý đồ, hay là cách người dân tận dụng những món còn xài được mà không muốn vứt đi? Người bạn Việt ở Praha qua nhà trọ đón tôi và nói: Đã đến Praha thì phải thử một cốc bia thật lớn, thưởng thức cà phê trên “tòa nhà nhảy múa” và phải đi coi bói! Tôi háo hức khôn tả vì lời đề nghị thật hấp dẫn!
Ngắm thành phố trên “tòa nhà nhảy múa”
Người Séc luôn coi các loại bia sản xuất tại địa phương là những tài sản quý của quốc gia. Hẳn cái tên Bia Tiệp Khắc không còn xa lạ với người Việt, bởi hầu hết các loại bia ở đây đều ngon tuyệt hảo, thật khó để so sánh và tìm ra loại nào ngon nhất. Một số loại bia như Kozel hay Pilsner Urquell đã giành giải thưởng tại các “cuộc thi bia” trên thế giới.
Một người bạn dẫn tôi tới quán bia U FLEKU nổi tiếng địa chỉ tại số 11 phố Krememcova. Đây là quán bia cổ của người Séc có từ năm 1499, với tường ốp gỗ, đèn trang trí bằng cốc bia thuỷ tinh và tất nhiên chỉ bán một loại bia đen duy nhất do quán nấu. Không dám uống nhiều bởi vì tôi biết rằng ở mảnh đất mà bia như không khí để thở hàng ngày thì chúng tôi sẽ còn quá nhiều loại bia cần thưởng thức.
Thưởng thức một tách cà phê trên tầng cao nhất của “tòa nhà nhảy múa” (the dancing house) là một trong những trải nghiệm thú vị nhất ở Praha. Ngôi nhà là một niềm ngạc nhiên lớn và gây tranh cãi cho ngành kiến trúc thế giới, bởi thiết kế “kỳ lạ”, “bị bóp méo” nằm giữa tổng thể những thiết kế Gothic cổ điển của Praha.
Bạn cần phải ngắm tòa nhà này từ mọi góc cạnh, nhìn từ xa, đến gần, nhiều người nói rằng, khi nhìn tòa nhà, họ cảm giác như người đang say. Tôi uống một tách cà phê trên ban công tòa nhà, ngắm thành phố và con sông phía xa xa, một cảm giác không dễ gì quên được.
Chắc hẳn những người đi xem bói ở Praha như tôi không phải để coi vận mệnh mình thế nào, mà để tận hưởng không gian huyền bí như trong phim cổ trang thế kỷ 14-15.
Nếu bạn đã xem những bộ phim về người du mục châu Âu, bạn sẽ thấy hình ảnh những cô gái bohemian, quấn đầy các loại quần áo và trang sức trên người, trang điểm rất đậm, cùng một mái tóc xù màu đỏ, ngồi bên quả cầu tiên tri, hoặc xem đường chỉ tay và đoán vận mệnh tương lai. Bohemian vốn là từ để chỉ một vương quốc trước khi Séc ra đời.
Ở Praha, nếu bạn đi vào một trong những con hẻm nhỏ, bạn sẽ tìm thấy khá nhiều các biển chỉ dẫn đến với các “thầy bói” này. Nhiều biển chỉ dẫn còn ghi rõ “chúng tôi nói tiếng Anh, tiếng Pháp” để phục vụ du khách.
Cây cầu Tình
Một địa điểm nổi tiếng khác mà ai đến Praha cũng không thể bỏ qua, đó là cây cầu Charles (mà những người Việt Nam đi học tập, lao động vài thập kỷ trước đặt tên cho nó là Cầu Tình). Đây là cây cầu cổ nhất tại Praha, được xây dựng từ năm 1342, với 16 nhịp, được trang trí bằng 30 bức tượng tôn giáo, trước kia được đặt tên là Cầu đá, hay cầu Praha, từ năm 1870 được đổi tên thành cầu Charles.
Người ta kể lại rằng, khi xây cầu, họ đã cho thêm lòng đỏ trứng vào vữa để thêm phần chắc chắn. Có lẽ thế mà cây cầu vẫn đứng vững sau hơn 650 năm, trải qua bao mùa mưa lũ và là cây cầu đá lâu đời nhất châu Âu vẫn còn được sử dụng. Hai bên đầu cầu là hai pháo đài, nối liền hai phần của thành phố – một nửa thành phố Praha cổ và một nửa thành phố mới.
Buổi chiều tà là thời điểm đẹp nhất và thơ mộng nhất của Praha, ánh nắng vàng cuối ngày chiếu lên những viên gạch khiến cây cầu và các con đường rực sáng như dát vàng, vì thế người ta hay gọi Praha là “thành phố vàng”.
Dọc hai bên cây cầu, những nghệ sĩ đường phố đang chơi đàn dây, bên cạnh là bác họa sỹ già nắn nót từng nét vẽ trên bức chân dung cô gái tóc đỏ, mấy cậu thanh niên mặc áo thủy thủ đang chào bán các tour du lịch trên sông, và đẹp nhất là cảnh những cặp tình nhân ghé sát vào nhau ngắm hoàng hôn bên dòng sông lấp lánh ánh chiều tà.
Chợ Việt ở Praha
Với người Việt khi đến Praha, không thể không ghé chợ Sapa. Tại CH Séc, có hơn 83.000 người Việt Nam sinh sống và làm việc, chủ yếu tại Praha. Chính những người Việt này đã thành lập nên Trung tâm thương mại Sapa (được gọi thân thuộc là chợ Sapa) là nơi trao đổi, buôn bán những món hàng rất Việt Nam. Khu vực này không chỉ có chợ, mà còn có nhà hàng, cửa hàng thẩm mỹ, dịch vụ, trường học, mẫu giáo, đền chùa theo phong cách Việt Nam.
Ở chợ Sapa, bạn có thể tìm thấy bất cứ thứ gì từ quần áo, đồ trang trí nhà cửa, đồ chơi…đến rau củ quả, nước mắm, tôm đông lạnh, tôm cá khô, trà, gạo, đậu phụ, giá đỗ, thậm chí cả… bún chả, thịt chó. Đây là một nơi lý tưởng cho ai đó muốn thưởng thức hương vị Việt Nam khi xa nhà. Tuy nhiên, những người dân ở đây chủ yếu là người Việt, tuy sống lâu năm tại đây nhưng khá hạn chế về tiếng Séc và tiếng Anh, dẫn đến khả năng hội nhập thật sự vào cuộc sống, hoặc phát triển những ngành nghề khác ngoài buôn bán là điều hiếm thấy.
Chuyến chu du ở Prada đã để lại trong tôi nhiều nhớ thương. Tôi thật sự đã phải lòng Praha, một tổng hòa, giao thoa của văn hóa Phương Đông và Phương Tây, một thành phố xinh đẹp và dịu dàng đến nao lòng.
Praha nổi tiếng với 18 cây cầu bắc ngang con sông Vltava, hai bên bờ là những nhà thờ mái vòm cổ kính, những ngọn tháp mạ vàng trên đỉnh, tòa lâu đài hàng nghìn năm tuổi mang phong cách La Mã, Gothic và dòng sông mềm mại uốn lượn xuyên qua thành phố.
Được mệnh danh là thành phố vàng, người Praha tự hào gọi đây là một trong những thành phố xinh đẹp và quyến rũ nhất châu Âu, Praha đã thu hút nhiều triệu lượt khách đến thăm mỗi năm, và được tặng cho những mỹ từ như “thành phố vàng”, “vương miện của thế giới”, “thành phố của trăm đỉnh tháp”… Và cũng giống như thành Rome được xây dựng trên 7 ngọn đồi, Praha được xây dựng trên 9 ngọn đồi dọc theo sông Vltava.
| Lâu đài Prague hơn 1000 năm tuổi là tòa lâu đài cổ rộng lớn nhất thế giới. |
Praha được thành lập trên giao lộ của tuyến đường thương mại cổ xưa, nơi giao thoa của các nền văn hóa và tâm linh khác nhau.
Tôi đến nhà trọ (hostel) “Mr. Tobby” ngay gần trung tâm. Nhìn từ cửa sổ phòng nghỉ, Praha vẫn còn mang dấu vết của thời Xô Viết cũ với những poster lớn in hình anh bộ đội, cô công nhân giơ tay quyết chiến quyết thắng, bên cạnh là hình cờ búa liềm.
Thú vị nhất là khi bước xuống vườn ngay sau nhà để thưởng thức tách cà phê sáng, tôi phát hiện tất cả bàn ở đây đều được “cải tiến” từ những chân máy khâu cũ thời XHCN. Không hiểu đây là một kiểu trang trí cổ điển có ý đồ, hay là cách người dân tận dụng những món còn xài được mà không muốn vứt đi? Người bạn Việt ở Praha qua nhà trọ đón tôi và nói: Đã đến Praha thì phải thử một cốc bia thật lớn, thưởng thức cà phê trên “tòa nhà nhảy múa” và phải đi coi bói! Tôi háo hức khôn tả vì lời đề nghị thật hấp dẫn!
| Đồng hồ thiên văn học – một biểu tượng của thành phố Praha. |
Ngắm thành phố trên “tòa nhà nhảy múa”
Người Séc luôn coi các loại bia sản xuất tại địa phương là những tài sản quý của quốc gia. Hẳn cái tên Bia Tiệp Khắc không còn xa lạ với người Việt, bởi hầu hết các loại bia ở đây đều ngon tuyệt hảo, thật khó để so sánh và tìm ra loại nào ngon nhất. Một số loại bia như Kozel hay Pilsner Urquell đã giành giải thưởng tại các “cuộc thi bia” trên thế giới.
Một người bạn dẫn tôi tới quán bia U FLEKU nổi tiếng địa chỉ tại số 11 phố Krememcova. Đây là quán bia cổ của người Séc có từ năm 1499, với tường ốp gỗ, đèn trang trí bằng cốc bia thuỷ tinh và tất nhiên chỉ bán một loại bia đen duy nhất do quán nấu. Không dám uống nhiều bởi vì tôi biết rằng ở mảnh đất mà bia như không khí để thở hàng ngày thì chúng tôi sẽ còn quá nhiều loại bia cần thưởng thức.
| Đến Praha và thưởng thức bia Tiệp – niềm tự hào của người dân địa phương. |
Thưởng thức một tách cà phê trên tầng cao nhất của “tòa nhà nhảy múa” (the dancing house) là một trong những trải nghiệm thú vị nhất ở Praha. Ngôi nhà là một niềm ngạc nhiên lớn và gây tranh cãi cho ngành kiến trúc thế giới, bởi thiết kế “kỳ lạ”, “bị bóp méo” nằm giữa tổng thể những thiết kế Gothic cổ điển của Praha.
Bạn cần phải ngắm tòa nhà này từ mọi góc cạnh, nhìn từ xa, đến gần, nhiều người nói rằng, khi nhìn tòa nhà, họ cảm giác như người đang say. Tôi uống một tách cà phê trên ban công tòa nhà, ngắm thành phố và con sông phía xa xa, một cảm giác không dễ gì quên được.
| Ngắm thành phố từ trên cung điện Hoàng Gia. |
Chắc hẳn những người đi xem bói ở Praha như tôi không phải để coi vận mệnh mình thế nào, mà để tận hưởng không gian huyền bí như trong phim cổ trang thế kỷ 14-15.
Nếu bạn đã xem những bộ phim về người du mục châu Âu, bạn sẽ thấy hình ảnh những cô gái bohemian, quấn đầy các loại quần áo và trang sức trên người, trang điểm rất đậm, cùng một mái tóc xù màu đỏ, ngồi bên quả cầu tiên tri, hoặc xem đường chỉ tay và đoán vận mệnh tương lai. Bohemian vốn là từ để chỉ một vương quốc trước khi Séc ra đời.
Ở Praha, nếu bạn đi vào một trong những con hẻm nhỏ, bạn sẽ tìm thấy khá nhiều các biển chỉ dẫn đến với các “thầy bói” này. Nhiều biển chỉ dẫn còn ghi rõ “chúng tôi nói tiếng Anh, tiếng Pháp” để phục vụ du khách.
| Một cửa hiệu bói của người Gypsy. |
| Một biển quảng cáo xem bói. |
Cây cầu Tình
Một địa điểm nổi tiếng khác mà ai đến Praha cũng không thể bỏ qua, đó là cây cầu Charles (mà những người Việt Nam đi học tập, lao động vài thập kỷ trước đặt tên cho nó là Cầu Tình). Đây là cây cầu cổ nhất tại Praha, được xây dựng từ năm 1342, với 16 nhịp, được trang trí bằng 30 bức tượng tôn giáo, trước kia được đặt tên là Cầu đá, hay cầu Praha, từ năm 1870 được đổi tên thành cầu Charles.
Người ta kể lại rằng, khi xây cầu, họ đã cho thêm lòng đỏ trứng vào vữa để thêm phần chắc chắn. Có lẽ thế mà cây cầu vẫn đứng vững sau hơn 650 năm, trải qua bao mùa mưa lũ và là cây cầu đá lâu đời nhất châu Âu vẫn còn được sử dụng. Hai bên đầu cầu là hai pháo đài, nối liền hai phần của thành phố – một nửa thành phố Praha cổ và một nửa thành phố mới.
Buổi chiều tà là thời điểm đẹp nhất và thơ mộng nhất của Praha, ánh nắng vàng cuối ngày chiếu lên những viên gạch khiến cây cầu và các con đường rực sáng như dát vàng, vì thế người ta hay gọi Praha là “thành phố vàng”.
Dọc hai bên cây cầu, những nghệ sĩ đường phố đang chơi đàn dây, bên cạnh là bác họa sỹ già nắn nót từng nét vẽ trên bức chân dung cô gái tóc đỏ, mấy cậu thanh niên mặc áo thủy thủ đang chào bán các tour du lịch trên sông, và đẹp nhất là cảnh những cặp tình nhân ghé sát vào nhau ngắm hoàng hôn bên dòng sông lấp lánh ánh chiều tà.
| Cặp tình nhân trên cầu Charles. |
Chợ Việt ở Praha
Với người Việt khi đến Praha, không thể không ghé chợ Sapa. Tại CH Séc, có hơn 83.000 người Việt Nam sinh sống và làm việc, chủ yếu tại Praha. Chính những người Việt này đã thành lập nên Trung tâm thương mại Sapa (được gọi thân thuộc là chợ Sapa) là nơi trao đổi, buôn bán những món hàng rất Việt Nam. Khu vực này không chỉ có chợ, mà còn có nhà hàng, cửa hàng thẩm mỹ, dịch vụ, trường học, mẫu giáo, đền chùa theo phong cách Việt Nam.
Ở chợ Sapa, bạn có thể tìm thấy bất cứ thứ gì từ quần áo, đồ trang trí nhà cửa, đồ chơi…đến rau củ quả, nước mắm, tôm đông lạnh, tôm cá khô, trà, gạo, đậu phụ, giá đỗ, thậm chí cả… bún chả, thịt chó. Đây là một nơi lý tưởng cho ai đó muốn thưởng thức hương vị Việt Nam khi xa nhà. Tuy nhiên, những người dân ở đây chủ yếu là người Việt, tuy sống lâu năm tại đây nhưng khá hạn chế về tiếng Séc và tiếng Anh, dẫn đến khả năng hội nhập thật sự vào cuộc sống, hoặc phát triển những ngành nghề khác ngoài buôn bán là điều hiếm thấy.
Chuyến chu du ở Prada đã để lại trong tôi nhiều nhớ thương. Tôi thật sự đã phải lòng Praha, một tổng hòa, giao thoa của văn hóa Phương Đông và Phương Tây, một thành phố xinh đẹp và dịu dàng đến nao lòng.
Theo Đẹp Plus/TCDD
Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013
Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013
- 0 Bình luận
SSAT (từ viết tắt của Secondary School Admission Test) là một trong những bước quan trọng để hoàn thành đơn xin nhập học vào một số trường cấp 2, cấp 3 tư thục ở Mỹ.
Đây là bài kiểm tra dành cho các đối tượng từ lớp 5 đến lớp 11 và được chia thành 3 cấp độ: Elementary, Middle và Upper. Hầu hết các trường phổ thông tại Mỹ đều dựa vào SSAT để đánh giá khả năng suy luận định lượng của học sinh.
SSAT quyết định suất vào trường hot
Một điểm quan trọng của kì thi SSAT là sẽ có điểm phần trăm: So sánh điểm của một học sinh với điểm của tất cả các học sinh khác cùng độ tuổi và giới tính đã thi trong vòng 3 năm trở lại tại Mỹ và Canada. Khi nhận được điểm, các học sinh có thể gửi kết quả tới các trường cấp 3 mà học sinh muốn đăng kí.
Mỗi trường sau đó sẽ xem xét điểm dựa trên các tiêu chí riêng của mình. Điểm tổng cho bài thi sẽ là 1.500-2.400 cho bài thi của học sinh lớp 8 đến lớp11 và 1.320 - 2.130 cho học sinh lớp lớp 3 đến lớp 7.
Mục đích của kì thi SSAT
Học sinh nên nhớ rằng điểm SSAT không phải là điểm để tính thành tích học tập cũng không phải là chỉ số thể hiện tố chất sáng tạo của học sinh để được nhận vào trường. Kì thi SSAT chú trọng vào các kĩ năng cần thiết cho học sinh để học tập tại các trường tư thục như kĩ năng nói, định lượng và đọc mà không phụ thuộc vào kinh nghiệm cũng như thành tích học tập tại lớp.
Vượt qua rào cản SSAT
Để tổ chức kì thi SSAT, hội đồng của trường sẽ thành lập một ủy ban bao gồm các chuyên gia và các giáo viên chuyên về SSAT. Câu hỏi trong kì thi sẽ được xem xét kĩ lưỡng bởi hội đồng nhằm đảm bảo phù hợp và mang tính phân loại. Trong thực tế, các bộ câu hỏi trong kì thi SSAT thường ở mức độ khó trung bình cho các thí sinh.
Hiện nay, SSAT là một kì thi được đánh giá cao về mức độ phân loại và thường được dùng như một trong những tiêu chí xét tuyển của các trường phổ thông tại Mỹ.
Theo Tiin.vn
Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013
Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013
- 0 Bình luận
Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại thành phố Hồ Chí Minh đang tìm kiếm ứng viên cho chương trình học bổng trao đổi sinh viên Global Undergraduate Exchange Program(Global UGRAD), năm học 2014 - 2015.
Do Vụ Giáo dục và Văn hoá thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ, chương trình học bổng Global UGRAD tài trợ cho sinh viên theo học một năm học hoặc một học kỳ không lấy bằng tại một trường đại học ở Hoa Kỳ.
Du học sinh tại Mỹ có nhiều cơ hội để trải nghiệm môi trường học tập toàn diện
Sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ ba các trường đại học Việt Nam có năng lực lãnh đạo thể hiện qua kết quả học tập, sự đóng góp cho cộng đồng cũng như các hoạt động ngoài giảng đường và có khả năng tiếng Anh tốt có thể nộp đơn tham dự chương trình.
Thời hạn nộp đơn đăng ký: 17h00, thứ Hai, 25/11/2013.
Thông tin chi tiết về chương trình có thể tìm được trên trang web của chương trình tại địa chỉ https://sites.google.com/site/ugradvietnam/
Theo Tiin.vn
Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013
Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013
- 0 Bình luận
Theo bảng xếp hạng của QS World University Rankings 2013/14, đứng đầu top 10 trường đại học tốt nhất thế giới là học viện Công nghệ Massachusetts (MIT).
Năm nay, tạp chí The Times Higher đã đưa ra bảng xếp hàng của các trường đại học tốt nhất trên Thế giới. Thứ tự của các trường đại học năm 2013 so với năm ngoái đã có sự thay đổi.
Dưới đây là top 10 các trường đại học tốt nhất thế giới năm 2013:
1. Học viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ)
Năm nay, học viện Công nghệ Massachusetts vẫn giữ vị trí đứng đầu bẳng xếp hạng với tổng điểm 100. MIT là trường đại học nổi tiếng về khoa học công nghệ cũng như các lĩnh vực quản lý, kinh tế, ngôn ngữ, khoa học, khoa học chính trị và triết học. Trực thuộc học viện công nghệ Massachusetts gồm có 6 trường nhỏ là ĐH kiến trúc và quy hoạch, ĐH Kỹ thuật, ĐH Khoa học Xã hội, Nghệ thuật và Nhân văn, ĐH quản lý Sloan, ĐH Khoa học, ĐH Khoa học và Công nghệ Y tế Whitaker.
Học viện Công nghệ Massachusetts.
2. Đại học Harvard (Mỹ)So với năm 2012, năm nay, ĐH Harvard đã vươn lên một bậc và đứng vào vị trí thứ 2. Số điểm năm nay của trường là 99,2. Harvard là trường đại học lâu đời nhất ở Hoa Kỳ và cũng là cơ sở giáo dục đại học đầu tiên ở châu Mỹ. Trường gồm có 9 khoa lớn.
Đây cũng là nơi đào tạo của 8 vị tổng thống Mỹ gồm John Adams, John Quincy Adams, Theodore Roosevelt, Franklin Delano Roosevelt, Rutherford B.Hayes, John Fitzgerald Kennedy, Geoge W.Bush và Barack Obama.
Đại học Harvard.
3. Đại học Cambridge (Anh).
Đại học Cambridge là viện đại học nghiên cứu công lập tại Cambridge, Anh. Đây là viện đại học lâu đời thứ hai trong hệ thống trường đại học ở Anh. Hiện nay, trường gồm có 31 trường thành viên và 6 học viện được xây dựng khắp nơi ở Cambridge. Năm 2013, ĐH Cambridge xếp hạng thứ 3 với tổng 99, tụt một bậc so với 2012.
Đại học Cambridge.
4. Đại học College London (Anh)College London là một trường đại học liên hợp của 31 trường thành viên gồm 19 cơ sở riêng biệt và 12 viện nghiên cứu. Năm nay trường vẫn chiếm vị trí thứ 4 và có tổng số điểm là 98,9.
Đại học College London.
5. Đại học Imperial College London (Anh)
Imperial College London là ngôi trường có lịch sử hơn 100 năm. Trường đại học Imperia College London nghiên cứu các lĩnh vực như khoa học, y học, kinh doanh và kỹ thuật nổi tiếng Vương quốc Anh. Năm nay, trường đã vượt qua ĐH Oxford để đứng ở vị trí thứ 5 với số điểm 98,8.
Imperial College London .
6. Đại học Oxford (Anh)
Oxford là trường đại học lâu đời nhất ở Anh. Trường gồm có hai loại trường thành viên college và hall. Đại học Oxford có 38 college và 6 hall. Năm 2013, vị trí trong bảng xếp hạng của Oxford đã giảm xuống một bậc với 98,7 điểm.
Đại học Oxford.
7. Đại học Stanford (Mỹ)Vượt qua 8 bậc, từ vị trí thứ 15 của năm 2012, năm nay đại học Stanford đã lọt vào top 10 của bảng xếp hạng các trường đại học tốt nhất thế giới. Đây là viện đại học có diện tích lớn thứ hai trên thế giới.
Viện đại học Stanford có chương trình đầy đủ cho sinh viên đại học cũng như sinh viên sau đại học cùng với một trung tâm y khoa nổi tiếng và nhiều trung tâm nghiên cứu và dự án phục vụ. Điểm số trong bảng xếp hạng của ĐH Stanford là 96,8.
Đại học Stanford.
8. Đại học Yale (Mỹ)Đại học Yale là một trong những trường đại học lâu đời nhất ở Hoa Kỳ. Đây là trường đại học chủ yếu đào tạo cho chính đảng Cộng hòa. Đại học Yale gồm có hơn 10 trường nhỏ đào tạo về các lĩnh vực khoa học y khoa... So với năm ngoái, năm nay trường đã bị giảm từ thứ hạng thứ 7 xuống thứ 8 trên bảng xếp hạng với tổng điểm 96,5.
Đại học Yale.
9. Đại học Chicago (Mỹ)Đại học Chicago là trường đại học tư nằm chủ yếu ở khu vực phố Hyde Parkcủa Chicago. Trường nổi tiếng có các phong trào học thuật gây ảnh hưởng như trường phái kinh tế học Chicago, trường phái xã hội học Chicago, phong trào luật và kinh tế học trong phân tích pháp lý.
Đại học Chicago cũng là nơi thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo tự lực đầu tiên của thế giới và là trường đại học có nhà xuất bản riêng lớn nhất Hoa Kỳ. Năm ngoái đại học Chicago xếp ở vị trí thứ 8.
Đại học Chicago.
10. Đại học Princeton và đại học Công nghệ California (Mỹ)
Đứng ở vị trí thứ 10 là hai trường Princeton và Công nghệ California. Cả hai đều đạt số điểm là 96,1. Năm 2012, trường Princeton đứng ở vị trí thứ 9 và đại học Công nghệ California xếp thứ 10.
Đại học Princeton và Đại học Công nghệ California.
Theo Tiin.vn
Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013
Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013
- 0 Bình luận
Chọn một đề tài không ai đề cập tới, hay đưa ra những tuyên bố gây tranh cãi... bằng lập luận chính xác sẽ giúp bạn thành công.
Đề tài không ai ngờ tới
Bài viết đầu tiên được đăng trên New York Times là của Julian Cranberg, một học sinh 17 tuổi tới từ Brookline, Massachusetts đã viết rất thẳng thắn về chi phí lớn các trường bỏ ra để gửi thư mời cho những sinh viên tiềm năng. "Tại sao, trong một kỷ nguyên mà nợ cho vay sinh viên và tỷ lệ thất nghiệp cao tới mức kỷ lục, các trường đại học lại không tái phân bổ các quỹ không cần thiết để hỗ trợ chính các sinh viên của mình?" - cậu viết.
Theo nguyên tắc ngầm của viết luận vào đại học là bạn không bàn về quá trình nộp đơn vào đại học. Tuy nhiên, Julian đã không hề ngần ngại phá vỡ điều cấm kị đó. Mạnh dạn chọn một đề tài mà không ai ngờ tới và đưa ra những lập luận sắc bén, thẳng thắn đã giúp anh bạn này ghi điểm và được vào thẳng trường Oberlin College.
Julian Cranberg
Cảm xúc chân thật
Những bài luận về cảm xúc, trải nghiệm của học sinh về môi trường họ đang sống, về người thân trong gia đình không phải là một đề tài mới lạ nhưng cảm nhận sâu sắc, chân thực của bạn sẽ vẫn để lại những dấu ấn riêng.
Đây chính là kinh nghiệm được đúc kết từ bài viết luận xuất sắc của Lyle Li giúp anh được nhận vào New York University. Mỗi chi tiết trong câu chuyện của Li miêu tả chân thực và sinh động về cuộc sống gia đình, về sự đấu tranh của bản thân, và đặc biệt là tình yêu và sự tôn trọng mà anh dành cho người mẹ đã hi sinh hết lòng vì anh. Yếu tố cảm xúc trong bài viết luận về đề tài này là không thể thiếu được.
Lyle Li thành công khi viết lại chân thực những cảm xúc của mình
Tuyên bố táo bạo
Khác với Li viết về một đề tài gần gũi thì Ana Castro, nữ sinh trung học 18 tuổi đến từ Rensselaer, New York nộp đơn vào trường Hamilton College lại mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình về quốc tịch và trách nhiệm của một công dân toàn cầu.
Cô đã kể lại một câu chuyện buồn trong chuyến thăm Cộng hòa Dominica. Ở đó, cô không được phép cô chơi với cậu bé hàng xóm chỉ vì cậu là con nhà nghèo. Ana đã có tuyên bố đầy bất ngờ trong bài luận văn, "Tôi chưa bao giờ cảm thấy thực sự yêu một đất nước bất kỳ nào đó. Tôi không nghĩ sẽ chỉ ở đây và để giúp đất nước này, bởi vì tôi không cho rằng nước Mỹ là nhà của tôi. Đối với tôi trái đất mới thực sự là nhà”.
Tuyên bố táo bạo, chân thật trong suy nghĩ của Ana đã để lại dấu ấn mạnh mẽ với ngài giám đốc tuyển sinh và hỗ trợ tài chính tại trường Hamilton. Để rồi cô đã chính thức nhập học vào trường trong mùa thu vừa qua.
Vấn đề gây chú ý
Bài luận đáng chú ý nữa thuộc về Shanti Kumar, học sinh trường trung học Bronx Science, New York. Khi được yêu cầu bình luận về câu nói: "Princeton là dịch vụ của quốc gia và sẵn sàng phục vụ tất cả các quốc gia". Mở đầu bài luận của mình, Kumar đã đặt ra câu hỏi: “Tôi tự hỏi trường Đại học Princeton có nên nghèo hơn? ", Cô không ngần ngại bàn luận về những vấn đề giật gân hay đưa ra những phát biểu gây tranh cãi, qua đó thẳng thắn thể hiện được quan điểm cá nhân thông qua những câu chuyện độc đáo.
Đây quả là những gợi ý vàng cho bài viết luận xuất sắc của bạn. Quan trọng hơn nữa, một bài luận thành công là phải phản ánh được kinh nghiệm cá nhân của người viết trong một bối cảnh lớn hơn cuộc sống mà bạn đang sống. Những ứng viên có khả năng khái quát và nâng cao tầm nhìn của mình chắc chắn sẽ được hội đồng tuyển sinh đánh giá cao hơn so với những người khác.
Theo Tiiin
Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013
Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013
- 0 Bình luận
Học bổng Borlaug, học bổng GRA và 40 suất học bổng thạc sĩ và tiến sĩ tại Mỹ đang chờ đón bạn.
Quỹ giáo dục Việt Nam (VEF) thông báo sẽ cấp 40 suất học bổng toàn phần cho sinh viên Việt Nam theo học bậc Thạc sĩ và Tiến sĩ tại các trường đại học tại Hoa Kỳ năm học 2015.
Các ngành đào tạo bao gồm: Khoa học (Tự nhiên, Vật chất và Môi trường), Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học và Y tế (bao gồm Y tế cộng đồng và Khoa học sức khỏe).
Cách thức nộp hồ sơ: Nộp hồ sơ trực tuyến trên website của VEF tại địa chỉ: https://application.vef.gov
Thời gian nộp hồ sơ: 10h00 sáng, ngày 10 tháng 12 năm 2013 đến 10h00 sáng, ngày 10 tháng 4 năm 2014.
Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam vừa ra thông báo chương trình học bổng Borlaug và Học bổng Liên minh nghiên cứu toàn cầu Borlaug - Global Research Alliance Borlaug (GRA) năm 2014.
Học bổng Borlaug: Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ hàng năm trao học bổng này cho các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách đến từ 28 quốc gia trong đó có Việt Nam. Các ứng viên của chương trình sẽ có cơ hội được tham gia nghiên cứu cùng các cố vấn nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc các tổ chức chính phủ của Hoa Kỳ từ 6 đến 12 tuần.
Các bạn quan tâm có thể tham khảo tại trang: http://fas.usda.gov
Học bổng GRA của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ dành cho các nhà nghiên cứu đến từ 8 quốc gia thành viên của Liên minh nghiên cứu toàn cầu về Khí thải nhà kính (Global Research Alliance (GRA) on Agricultural Greenhouse Gases). Các ứng viên của chương trình sẽ có cơ hội tham gia nghiên cứu về đề tài biến đổi khí hậu cùng các cố vấn nghiên cứu tại Viện nghiên cứu Nông nghiệp Hoa Kỳ hoặc các trường đại học tại Hoa Kỳ trong thời gian tối đa 3 tháng.
Các bạn quan tâm có thể tham khảo tại trang: http://globalresearchalliance.org
Theo Tiin
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013
- 0 Bình luận
Ông Charles Pang, Giám đốc Đào tạo Viện khoa học hệ thống (Institute of System Sciences - ISS) thuộc Đại học quốc gia Singapore (NUS) sẽ có buổi thông tin trực tiếp chương trình Master & Diploma Công nghệ phần mềm.
Tại TP.HCM: 2g00 chiều Thứ Bảy 21/9 tại KS Rex, 141 Nguyễn Huệ, Q.1.
Tại Hà Nội: 2g00 chiều thứ Bảy 28/9 tại KS Movenpick, 83 Lý Thường Kiệt.
Các chương trình Master bao gồm: Software Engineering (SE), Knowledge Engineering (KE) và Enterprises Business Analytics (EBAC). Ngoài ra còn có chương trình Graduate Diploma (đào tạo ngắn hạn) về các lĩnh vực System Analys (áp dụng cho khu vực kinh doanh, quản trị) cho người đã có hoặc chưa có bằng Cử nhân liên quan IT. Các chương trình SE và KE được Chính phủ Singapore cho vay 90% học phí.
Đối tượng tuyển sinh là người tốt nghiệp Cử nhân các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ thông tin, khoa học máy tính đã làm việc hoặc vừa tốt nghiệp. Ưu tiên cho các đối tượng có kết quả học tập loại khá trở lên, điểm tiếng Anh IELTS 6.0 hoặc TOEFL IBT 85.
Đăng ký tham dự qua email:thamduNUSmaster@gmail.com hoặc ĐT: 08.38337747
Website: www.iss.nus.edu.sg
Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013
Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013
- 0 Bình luận
Trường ĐH Mississippi State University trao học bổng trị giá từ 10.000 USD đến 75000 USD/ 4 năm cho du học sinh.
Năm học mới 2014-2015, Mississippi State University trao học bổng trị giá từ 10.000 USD đến 75000 USD/ 4 năm cho sinh viên năm nhất đến từ các quốc gia bên ngoài nước Mỹ. Trong đó bao gồm học phí, lệ phí ăn ở, học bổng nghiên cứu và sách cho bốn năm học đại học. Giá trị của học bổng phụ thuộc vào thành tích học tập nổi bật của sinh viên về điểm GPA (điểm trung bình) hoặc ACT/SAT (Kì thi chuẩn hóa đầu vào của các trường ĐH tại MỸ)
Học bổng này được trao cho 10 -12 của các tân sinh viên có thành tích nổi bật nhất với kết quả trung bình từ xuất sắc với điểm tổng kết từ 3,75 trở lên.
Đặc biệt để nhận được học bổng này, sinh viên được yêu cầu ít nhất 28 điểm ACT hoặc 1250 điểm đối với SAT.

Sinh viên của trường Mississippi State
Tất cả mọi sinh viên Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn trên đều có thể nộp đơn xin học bổng trước ngày 1/12/2013 và tham khảo tại trang web của trường tại: http://www.msstate.edu.
Theo Tiin
Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013
Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013
- 0 Bình luận
Đây là một trong những chương trình học bổng lớn nhất của chính phủ Anh dành cho sinh viên Quốc tế.
Học bổng hàng đầu của chính phủ Anh Quốc (Chevening) với 1000 suất học bổng hàng năm được trao cho những sinh viên xuất sắc nhất tại 118 quốc gia trên khắp thế giới, tạo điều kiện cho những sinh viên có thành tích xuất sắc có cơ hội học tập và nghiên cứu sau Đại học tại các trường học hàng đầu ở xứ sở sương mù.
Chương trình học bổng nhằm hướng đến mục tiêu tạo dựng các nhà lãnh đạo tương lai, các nhà sáng lập ý tưởng và các chiến lược gia hoàn hảo.
Học bổng hấp dẫn nhất xứ sở sương mù (Ảnh minh họa - Nguồn internet)
Đơn vị cung cấp học bổng: được tài trợ bởi Bộ Ngoại giao Anh và Khối thịnh vượng chung (FCO).
Số lượng các học bổng được trao hằng năm: 1000
Đối tượng: Tất cả các sinh viên Quốc tế và Nghiên cứu sinh tại 118 quốc gia trên thế giới.
Giá trị học bổng: Học bổng toàn phần bao gồm toàn bộ các khoản như: học phí, tiền chi tiêu hằng tháng, tiền dự phòng, chi phí đi lại. Hầu hết học bổng nằm trong phạm vi chương trình Thạc sĩ với thời gian 1 năm.
Nộp đơn: Chương trình học bổng không có một thời gian thống nhất chung. Tham khảo thông tin tại các Đại sứ quán Anh hoặc Hội đồng Anh để tìm hiểu thêm thông tin về khoảng thời gian mở học bổng, các thông tin khác liên quan đến hạn chót, các tiêu chí liên quan đến mỗi chuyên ngành tham gia.
Yêu cầu: Yêu cầu chung với ứng viên bao gồm (nên có):
- Có động lực, ý chí để trở thành một nhà lãnh đạo tại đất nước mình trong khoảng 10 năm thuộc phạm vi học bổng.
- Có năng lực tiếp thu những kiến thức, kinh nghiệm tại Anh Quốc để giúp ích cho bản thân, đất nước ngay tại nước Anh.
- Có kế hoạch học tập rõ ràng, nêu rõ mục tiêu nghề nghiệp và kế hoạch thực hiện mục tiêu.
- Có năng lực hoàn thành khóa học theo đúng kế hoạch học tập của bản thân,
- Tính cách chính trực, chăm chỉ, có khả năng tự học và nghiên cứu độc lập.
- Ngoài ra còn có một số tiêu chuẩn bắt buộc:
- Kĩ năng tiếng Anh tốt với số điểm tổi thiểu IELTS 5,5 (hoặc tương đương) để tham gia các khóa học sau Đại học.
- Đáp ứng các yêu cầu về mặt học tập đối với chương trình học.
Thời hạn nhận hồ sơ: Dao động theo mỗi một Quốc gia.
Tại Việt Nam, hạn chót nhận hồ sơ là: ngày 15 tháng 11 năm 2013.
Chi tiết tìm hiểu thêm tại đây
Theo Tiin
Nếu bạn trả lời trôi chảy các câu hỏi sau đây thì chắc chắn bạn sẽ được nhận Visa du học tại Mỹ.
A. Câu hỏi phỏng vấn du học Mỹ – Thông tin cá nhân:
1. Good morning! Please introduce yourself! (Xin chào buổi sáng! Hãy tự giới thiệu bản thân của bạn!)
2. What’s your name? Why are you here today? (Tên của bạn là gì? Tại sao bạn lại ở đây hôm nay?)
3. How old are you? What’s your job? (Bạn được bao nhiêu tuổi? Công việc của bạn là gì?)
4. What are your hobbies? (Sở thích của bạn?)
5. Do you like traveling? Have you ever been abroad? (Bạn có thích du lịch không? Bạn có bao giờ đi ra nước ngoài chưa?)
6. Have you ever lived away from your parents? (Bạn có bao giờ sống xa cha mẹ hay không?)
7. Do you have any friend? How many friends do you have? (Bạn có người bạn nào không? Bạn có bao nhiêu người bạn?)
8. What do you often do at free time? (Bạn thường làm gì lúc rãnh rỗi?)
9. Do you like sports? Which kind of sport do you like best? ( Bạn có thích chơi thể thao không? Môn thể thao nào bạn yêu thích nhất?)
10. Have you ever been granted a US visa? (Bạn có bao giờ được cấp Visa đi Mỹ hay chưa?)
11. Have you ever been rejected a US Visa? (Bạn có bao giờ bị từ chối Visa đi Mỹ hay chưa?)
12. Tell me something about your country! (Hãy kể cho tôi nghe vài điều về đất nước bạn!)
B. Câu hỏi phỏng vấn du học Mỹ – Thông tin gia đình:
1. What’s your father's name? What’s your mother’s name? (Tên cha của bạn? Tên mẹ của bạn?)
2. Do you have any siblings? (Bạn có anh chị em ruột nào không?) If you do have, what is his/her name(s)? (Nếu có, tên của anh/chị/em ruột của bạn là gì?)
3. How old is your father/ mother? (Ba/mẹ của bạn bao nhiêu tuổi?)
4. Are you living with your parents? (Bạn có sống chung với ba/mẹ hay không?)
5. Have your parents/ your siblings traveled abroad? (Cha mẹ/ anh chị em của bạn có bao giờ đi nước ngoài chưa?)
6. Why don’t your older brother(s)/sister(s) study abroad like you? (Tại sao anh hoặc chị của bạn không học ở nước ngoài như bạn?)
C. Câu hỏi phỏng vấn visa – kết quả học tập ở Việt Nam:
1. What grade are you studying in? What’s your grade? (Bạn học lớp mấy?)
2. What’s your school name? (Tên của trường bạn là gì?)
3. What’s something special about your school? Tell me something about your school? (Trường của bạn có điều gì đặc biệt hay không? Hãy giới thiệu vài điều về trường của bạn?)
4. How many classes are there in your school? (Trường của bạn có bao nhiêu lớp?)
5. What subjects are you good/bad at? (Bạn học giỏi/ dở nhất là môn học nào?)
6. What are your favourite subjects? And why do you like them? (Những môn học nào bạn yêu thích nhất? Tại sao bạn thích chúng?)
7. What do you often do after school? (Sau giờ học bạn thường làm gì?)
8. Who is your favourite teacher? (Ai là người thầy mà bạn yêu thích nhất?)
9. What’s your principle’s name? (Tên hiệu trưởng trường của bạn là gì?)
D. Câu hỏi phỏng vấn Visa – Kế hoạch học tập tại Mỹ:
1. What is the purpose of your trip? (Mục tiêu của chuyến đi của bạn là gì?)
2. Why do you choose US to study? ( Tại sao bạn chọn học tại Mỹ?)
3. Why don’t you choose another country to study? (Tại sao bạn không chọn học tại một quốc gia khác?)
4. Why don’t you choose another school to study? (Tại sao bạn lại không chọn học tại một trường khác?)
5. What make you choose this state to study? (Điều gì khiến bạn chọn tiểu bang này để học?)
6. What school will you enrol in the US? (Bạn sẽ học tại trường nào khi đến Mỹ?)
7. What city will you arrive in? Tell me something about the city that you will live in the US? (Bạn sẽ đến thành phố nào? Hãy kể cho tôi nghe vài điều bạn biết về thành phố này?)
8. Where is your school located? Why do you choose this state to study at? What do you know about the state? (Trường của bạn tọa lạc ở đâu? Tại sao bạn chọn học ở tiểu bang này? Bạn biết gì về tiểu bang này?)
9. If you are provided a choice, where do you want to come? (nếu bạn được cho một sự lựa chọn, nơi nào bạn muốn đến?)
10. What is the address of your school? (Địa chỉ trường của bạn?)
11. Tell me something about your school? (Hãy kể cho tôi nghe một vài điều về trường của bạn?)
12. Is your school a public or a private school? (Trường của bạn là trường công hay trường tư?)
13. How can you know about this school? ( Làm sao bạn biết đến trường này?)
14. How can you get the I-20/DS-2019? How did you complete the admission form? (Làm sao bạn có thể xin được giấy I-20/DS-2019? Bằng cách nào mà bạn có thể hoàn tất thủ tục xin nhập học?)
15. Why do you choose the school to study? (Tại sao bạn chọn học tại trường này?)
16. What grade will you study in the US? (Bạn sẽ học lớp mấy tại Mỹ?)
17. When will your school start? When is the upcoming intake of your school? (Khi nào trường bạn bắt đầu học? Học kỳ sắp tới của trường bạn học là khi nào?)
18. What subjects will you study at school? (Bạn sẽ học những môn học nào?)
19. Is your school religious? (Trường của bạn có đạo nào hay không?)
20. Do you have to study Bible? (Bạn có phải học kinh thánh hay không?)
21. Do you have to wear uniform? (Bạn có phải mặc đồng phục hay không?)
22. How long do you want to study in the US? (Bạn muốn học ở Mỹ bao lâu?)
23. What will you study in the US? (Bạn sẽ học gì ở Mỹ?)
24. What will you major in when you study university? (Chuyên ngành bạn chọn ở đại học sẽ là gì?)
25. Why do you choose that major? (Tại sao bạn lại chọn chuyên ngành này?)
26. What degree will you get after your graduation? (Bạn sẽ nhận được học vị gì khi tốt nghiệp?)
27. What is this program fee? (Phí của chương trình này là bao nhiêu?)
28. What is the tuition fee? (Học phí của bạn là bao nhiêu?)
29. Have you bought insurance? (Bạn đã mua bảo hiểm hay chưa?)
30. Have you paid the program fee? By what way? ( Bạn đã trả phí chương trình hay chưa? Bạn trả bằng cách nào?)
31. Where will you live in the US? (Bạn sẽ sinh sống ở đâu khi ở Mỹ?)
32. With whom will you stay in the US? (Bạn sẽ sinh sống với ai khi ở Mỹ?)
33. Tell me something about your host family? (Hãy kể cho chúng tôi nghe vài điều về gia đình người Mỹ mà bạn sẽ ở với họ?)
34. Who will pick you up at the airport upon your arrival? (Ai sẽ đưa đón bạn tại sân bay?)
E. Câu hỏi phỏng vấn Visa – Các câu hỏi về tài chính:
1. What’s your father’s/mother’s job? (Ba mẹ bạn làm nghề gì?)
2. How much do your parents earn a month? How much is your family monthly income? (Một tháng ba mẹ của bạn kiếm được bao nhiêu tiền? Mổi tháng gia đình bạn kiếm được bao nhiêu tiền?)
3. Who will pay for your study in the US? (Ai sẽ trang trải chi phí du học tại Mỹ cho bạn?)
4. How can your parents pay for your study? (Ba mẹ bạn chi trả chi phí cho bạn bằng cách nào?)
5. Do your parents have a saving book/ banking account? How much? (Ba mẹ bạn có tài khoản ngân hàng hay không? Bao nhiêu?)
6. How many houses or lands do your parents have? (Ba mẹ có bao nhiêu nhà hay đất?)
7. Do you parents have a car? (Ba mẹ bạn có xe hơi không?)
8. How much will your parents give you a month when you live in the US? (Cha mẹ bạn sẽ cho bạn bao nhiêu tiền khi sinh sống ở Mỹ?)
Nếu làm ba mẹ bạn đang làm việc cho một tổ chức cụ thể:
1. Whom does your father/mother work for? (Ba mẹ bạn làm việc cho tổ chức nào?)
2. For how long have your parents worked for this company? (Ba mẹ của bạn làm cho công ty này bao lâu rồi?)
3. Do you know where is your father/mother company? What’s this company address? (Bạn biết nơi ba mẹ bạn làm việc hay không? Địa chỉ nào?)
4. What are your father/mother’s company products? (Các sản phẩm của công ty ba mẹ bạn là gì?)
5. Do you know any of your parents colleague? Who is he/she? (Bạn có biết bất kỳ đồng nghiệp nào của ba mẹ bạn hay không? Người đó tên gì?)
Nếu ba mẹ bạn có cơ sở kinh doanh riêng:
1. Show me your parents’ business lisence certificate! (Hãy đưa cho tôi xem giấy đăng ký kinh doanh của ba mẹ bạn)
2. How many employees are there in your parents’ company? (Có bao nhiêu nhân công trong cơ sở kinh doanh của ba mẹ bạn?)
3. How much does this business earn a month? (Mổi tháng cơ sơ kinh doanh này kiếm được bao nhiêu tiền?)
4. How long have your parents run this business? (Ba mẹ bạn mở cơ sở kinh doanh này bao lâu rồi?)
Nếu ba mẹ bạn có thu nhập từ việc cho thuê nhà:
1. Show me the renting contracts! (Hãy cho tôi xem các hợp đồng cho thuê nhà!)
2. Does this house belong to your parents? (Căn nhà này là của ba mẹ bạn à?)
3. For how long this house has been for rent? (Căn nhà này được cho thuê bao lâu rồi?)
4. How much do your parents earn a month from the houses for rent? ( Mổi tháng cha mẹ bạn cho thuê nhà được bao nhiêu tiền?)
Nếu ban mẹ bạn có phần hùn từ các công ty khác:
1. Which company/corporation are your parents the shareholders of? (Ba mẹ bạn có phần hùn trong công ty nào?)
2. What are the company products? (Sản phẩm của công ty này là gì?)
3. How much do your parents earn from this company? (Ba mẹ bạn kiếm được bao nhiêu tiền từ công ty này?)
4. Give me the business license of this company! (Hãy đưa tôi xem giấy đăng ký kinh doanh của công ty này!)
F. Câu hỏi phỏng vấn Visa – Ý định quay trở về Việt Nam:
1. Will you return Vietnam when you finish studying? (Bạn sẽ trở về Việt Nam sau khi học xong?)
2. How can you prove that you will return Vietnam? (Làm sao bạn chứng minh được bạn sẽ trở về Việt Nam?)
3. What do you want to become after graduation? (Bạn muốn trở nên như thế nào sau khi học xong?)
4. What will you do after you finish your study in the US? (Bạn sẽ làm gì sau khi học xong?)
5. How long do you intend to stay in the US after you finish your study? (Bạn có ý định ở Mỹ tiếp bao lâu nữa sau khi tốt nghiệp?)
6. Do you intend to work in the US? (Bạn có ý định làm việc tại Mỹ hay không?)
7. If you are offered a good job with high salary, will you agree to work? ( Nếu bạn có được một việc làm tốt với mức lương cao tại Mỹ, bạn có đồng ý ở lại làm không?)
G. Câu hỏi phỏng vấn Visa – Câu hỏi nhạy bén trong phản ứng:
1. What make me should grant you a Visa according to you? (Theo bạn điều gì khiến tôi nên cấp Visa cho bạn?)
2. What will you do if I said that you are not qualified for a Visa? (Bạn sẽ làm gì nếu tôi nói rằng bạn đã xin Visa thất bại?)
3. Why do you think I should give you a Visa? (Tại sao bạn nghĩ tôi nên cấp Visa cho bạn?)
4. Have you ever lived away from you parents? What will you do if you miss your parents? (Bạn đã bao giờ sống xa ba mẹ hay chưa? Bạn sẽ làm gì nếu bạn nhớ ba mẹ mình?)
5. Do you have any friend in the US? If you do have, tell me something about her/him (Bạn có người bạn nào ở Mỹ hay không? Nếu có, hãy kể cho tôi nghe về chị ấy/ anh ấy)
6. What difficulties do you think you may encounter in the US? (Bạn nghĩ rằng sẽ có khó khăn nào bạn có thể sẽ gặp khi ở Mỹ?)
7. What is the most memorable event in your life? (Sự kiện đáng nhớ nhất trong đời bạn là gì?)
8. What will you do if your parents ran out the money and could not afford your study well? (Bạn sẽ làm gì nếu cha mẹ bạn hết tiền và không thể tiếp tục lo cho bạn du học?)
Theo Tiin
Mặc dù điều kiện đầu vào của các trường đều đăng trên website, nhưng thật sự họ cần xem học bạ, bảng điểm của bạn mới quyết định nhận hay không và có nên học dự bị hay không.
Điểm trung bình thôi chưa đủ mà phải xem các môn liên quan tới ngành bạn chọn là bao nhiêu. Mình không biết bạn đang học năm mấy, bạn bỏ ra bao nhiêu tiền để đi du học. Số tiền bỏ ra chênh lệch rất lớn nếu như biết chắc trình độ Anh văn của bạn tới đâu hay là bảng điểm của bạn.

“Trường của em là trường của Australia nên sẽ không mấy khó khăn khi tiếp tục học lên cao ở Australia”. Điều này chưa hẳn đúng. Đi nước ngoài có hai phần riêng biệt, xin thư mời nhập học ở trường thì rất dễ, trường này không được thì mình xin trường khác phù hợp với học lực hay tài chính; phần quan trọng thứ hai là xin visa, nhiều du học sinh bên Australia thì comment kiểu "qua Australia vì đẹp", một số thì bảo là "bên Mỹ rẻ lắm chỉ cần 100 triệu là đủ". Xin thưa, với nguồn tài chính bên này yếu, không chứng minh nguồn thu nhập được thì lấy gì mà nộp hồ sơ xin visa. Còn cụ thể rẻ là bao nhiêu, trường nào, vùng nào và bằng cấp ra sao… phải chỉ rõ ra mới biết đường mà lần.
Mình không cần biết là bạn học trường nào, miễn là bạn đáp ứng đủ điều kiện thì có thể xin visa được và trình độ tiếng Anh của bạn như thế nào để qua bên đó hiểu và cảm nhận được bài giảng của thầy cô giáo. (Một số bạn học trường quốc tế nhưng chưa chắc giỏi Anh văn bằng các trường công). Không bàn cãi là học trường nào tốt hay xấu ở Việt Nam, mà hãy cho mình biết bằng cái công cụ đo lường chất lượng Anh văn của bạn bằng cái bằng IELTS hẳn hoi.
Mỗi ý kiến thì sẽ mỗi khác, nhưng ngành thiết kế đồ họa (graphic design) ở Mỹ, Anh, Italy, Australia, New Zealand, Canada hay Singapore gì thì mình thấy vẫn tốt. Quan trọng nhất vẫn là thực lực của bạn, cứ 10 bạn học ngành này thì 5 bạn giỏi 5 bạn dở, đó không phải do nước hay do trường mà do bạn có chịu học hay không và bạn học có nổi hay không. Điều quan trọng bây giờ là tiếng Anh của bạn phải tương đối tốt, hoặc nếu chưa đủ thì phải sang nước ngoài học tiếng Anh (điều này sẽ tốn một số tiền không nhỏ chút nào).
1. Học lực
- Mỹ, Australia, New Zealand, Canada: Điểm trung bình lớp 12 phải từ 6,0 trở lên, tốt nghiệp trung bình khá (nếu muốn sang đó học đại học, còn nếu muốn học thạc sĩ thì tương tự bảng điểm đại học cũng trung bình khá trở lên. Còn nếu dưới 6,0 thì cụ thể là bao nhiêu để có cách chứng minh thu nhập và tài chính mạnh hơn, hoặc là bạn sẽ đi du lịch nước ngoài trước khi qua nước đó học, cụ thể là đi Thái Lan, Singapore, Trung Quốc (chỉ cần đi một nước còn đi nhiều thì tốt), để cho hồ sơ của mình đẹp. Nói chung làm kĩ thì visa đậu gần như 100%, sơ sài hay không hiểu bản chất xử lý từng bộ hồ sơ cụ thể thì khả năng rớt visa rất lớn.
- Anh, Italia, Singapore: Học lực bạn miễn trên 5,0 là ok. Một số bạn chỉ học xong lớp 11 vẫn có thể đi học dự bị rồi lên thẳng đại học được.
- Anh văn thì tùy theo trường, tùy theo nước mà có bắt buộc bạn có bằng Ielts hay không.
2. Tài chính
Chứng minh tài chính
Điều này sẽ phản ảnh trong cái I 20 của bạn (Mỹ) và Visa Letter (Anh). Tùy học phí của bạn và tùy theo vùng bạn ở mà cần chứng minh tài chính bao nhiêu, theo kinh nghiệm của mình thì phải nhỉnh hơn chút đỉnh. Ví dụ như đi Mỹ cần 23 ngàn USD thì bạn nên chứng minh 30 ngàn hay hơn tùy theo học bạ của bạn nữa - 6,0 khác với 7,0 hay 8,0… Đi Australia thì từ 800 triệu cho tới 1,5 tỷ tùy theo trường, đi Singapore thì không cần khoản này, đi Anh thì chỉ cần 600 triệu mở trước 28 ngày là an toàn. Mỗi nước sẽ có cách xem xét vấn đề này khác nhau, Canada, Australia, New Zealand, Mỹ thì tương đối giống nhau, có nghĩa là bạn mở trước 3 tháng hoặc 6 tháng vẫn đẹp hơn là mở xong đi nộp hồ sơ liền. Còn riêng Anh thì chỉ cần trước khi nộp hồ sơ 28 ngày là hợp lệ. Đi Singapore thì không cần chứng minh tài chính.
Chứng minh nguồn thu nhập
Sẽ không có con số cụ thể mà phải theo sát từng bộ hồ sơ, nhưng ví dụ, cần từ 40 triệu cho tới 80 triệu để người bảo trợ là ba mẹ bạn cần có mỗi tháng. Điều này thể hiện trên các giấy thuế, vì đa số người Việt trốn thuế khai thu nhập thấp nên đóng thuế ít. Hệ lụy là rất ít ai chứng minh được các khoản này đủ để thuyết phục các Đại sứ quán, cho nên người ta sẽ bổ sung thêm là có nhà hay đất hay xe cho thuê để đủ đảm bảo nguồn thu nhập mà cung cấp cho bạn tài chính khi bạn ở nước ngoài, một phần để người ta hiểu là nguồn tài chính trong ngân hàng mà ba mẹ của bạn có từ đâu ra. Mấy cái này tùy luật lệ của mỗi nước cho nên chúng ta không bàn cãi mà phải làm đúng theo ý họ mình mới được đi. Riêng Canada thì khó hơn, họ có nhân viên đi xuống tới nơi xác minh cụ thể, cho nên bạn khai không đúng sự thật thì hồ sơ sẽ bị loại và gần như bị loại tiếp theo. Mỹ thì hên xui vì có lúc họ coi hồ sơ có lúc không, còn Australia hay New Zealand thì họ xem rất kĩ hoặc là gọi điện thoại xác minh. Đối với Singapore hay Anh (hoặc châu Âu không cần chứng minh nguồn thu nhập).
3. Nhân thân
Tùy theo nước nhưng chung chung là: Các bằng cấp bạn có, chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy giới thiệu của trường (nếu như học thạc sĩ), giấy giới thiệu của cơ quan (có một số trường cho học bổng thạc sĩ nếu bạn có thâm niên công tác trên ba năm).
4. Linh tinh khác
Nước Anh thì họ xét theo quan điểm, tiền ngân hàng mang tên bạn mở trước 28 ngày (chưa tới 28 ngày là bị rớt visa bạn nhé) nếu mang tên bố hoặc mẹ thì phải có cái giấy bố mẹ đứng ra bảo trợ cho bạn, chỉ cần kí tên vô là đủ. Sau khi đóng tiền cho trường bạn được trường gởi về cái Visa Letter cung cấp cho bạn cái Cas (tạm hiểu là thư chấp nhận cuối cùng) - cái này bạn được 30 điểm, đối với Anh thì bạn được 40 điểm là đã đậu visa. Nếu bạn nộp vô những trường công hay là có đi những nước lớn như Mỹ hay các nước châu Âu thì nộp hồ sơ tại TP HCM, còn học những trường liên kết hoặc những khóa dưới đại học thì các bạn trong Nam phải bay ra Bắc nộp hồ sơ (lăn dấu vân tay và chụp hình ngoài đó). Sau đó hồ sơ của bạn được gửi sang Thái Lan, nếu Thái Lan ổn định thì họ xét bên đó, trường hợp bên đó biểu tình hay bạo động thì hồ sơ của bạn gửi qua Malaysia để xét, trong vòng 2-4 tuần bạn sẽ có hồ sơ.
Một số bạn phàn nàn là nhân viên đại sứ quán tại Hà Nội rất khó chịu và hay quát nạt, cái này chịu thôi. Mình cũng biết là quá nhiều bạn điện ra Hà Nội la làng lên là mất hồ sơ, hoặc điện qua bên Thái, bên Thái gọi lại cho Hà Nội, cuối cùng hồ sơ đó nó nằm ngay... nhà các bạn. Không chịu kiểm tra kĩ nên làm phiền họ, họ tiếp điện thoại và bực bội cũng phải rồi. Mỗi ngày vài chục cuộc như thế ai mà không bực. Một số tỉnh phía bắc nằm vô diện nghi vấn vì có tì vết là số lượng người đi du học bỏ trốn nhiều quá nên hồ sơ các tỉnh đó sẽ xét khó hơn.
Trong quá trình xem hồ sơ, nhân viên Đại sứ quán sẽ điện hỏi bạn thêm vài điều nếu như họ chưa rõ, hay lúc ra Hà Nội nộp hồ sơ, có khi họ thấy bạn rồi kêu bạn đếm từ 20 đến 30 hoặc đọc các ngày trong tuần các tháng trong năm...
Mỹ: Đây là một nước có tỉ lệ rớt visa rất cao. Ngoài chuyện bạn chuẩn bị kỹ hồ sơ ra, kỹ năng tiếng Anh và hiểu biết từng câu hỏi của họ để trả lời là rất quan trọng. Khi trả lời phỏng vấn bạn run hay biểu lộ ánh mắt như thế nào đó bạn cũng rớt từ lúc đó. Khung cảnh trong đó dễ làm bạn khó chịu và căng thẳng với những ô phỏng vấn xéo xéo. Trước khi phỏng vấn bạn cũng phải đi qua dãy “tạm giam” với dòng chữ “nơi này dành cho bạn nếu bạn có sự gian dối". Dĩ nhiên là một số bạn đậu visa lần đầu thì bảo dễ dàng lắm, chả có gì cả, nhưng số lượng rớt khổng lồ còn lại thì mới đau thương. Nếu như bạn trả lời lưu loát và đúng ý họ thì có thể họ cho bạn đậu visa mà khỏi coi giấy tờ...
Khi đậu hay rớt bạn cũng ko nên tỏ thái độ gì mà nên trầm tĩnh cám ơn, mặc dầu bạn có giấy báo đậu để nhận visa nhưng bạn vui mừng quá trớn hay ra an ủi mấy người bạn rớt, thì có thể bảo vệ sẽ kêu bạn trở lại để tịch thu phiếu đó và tặng bạn tờ giấy A4 rớt. Hoặc là bạn về nhà nhưng họ vẫn kêu bạn lên để báo là bạn rớt visa…
Australia, New Zealand, Canada: Thì nộp hồ sơ rồi họ sẽ xem xét rất kỹ về học lực và tài chính.
Singapore thì dễ dàng rồi, không cần chứng minh tài chính, không cần chứng minh thu nhập, nói chung đi Singapore dễ như đi chợ Bến Thành nếu bạn có tiền… Nhưng bên Singapore bạn lưu ý vụ này, có quá nhiều trường học chỉ ba buổi một tuần cho nên kiến thức không có bao nhiêu nếu như bạn không tự học mà bỏ đi chơi và học phí không bao gồm lệ phí thi, có nghĩa là khi thi học kì bạn phải đóng 1.000 đô Sing. Singapore tiện cái là gần Việt Nam và khí hậu gần như tương đồng.
5. Ăn ở
Nếu nói chung chung, chi phí một sinh viên quốc tế đến nước họ học tập thì là 1.200 USD, cho bạn ở kí túc xá hay là homestay… Nhưng nếu bạn ra ngoài ở riêng thì có thể là 500 (USD, bảng…). Nhưng tới trường có xa hay không là do vị trí nhà bạn tìm, có nơi đi bộ ra trạm xe bus là 1 km, sau khi xuống xe bus lên xe lửa là 1 km nữa, từ trạm xe lửa đến trường là 500 mét hay 1 km… là chuyện rất thường bên đó, rồi bạn quay về nhà cũng trải qua con đường y chang vậy. Có khi chọn những nơi rẻ tiền hơn thì có thể đi bộ xa hơn, hoặc là nơi phức tạp hơn (xì ke ma túy chẳng hạn). Thông thường ít có chuyện đi bộ tà tà như bên mình mà là chạy bộ, cho nên chuẩn bị những đôi giầy tốt có độ đàn hồi ở các lót đệm để sau thời gian dài bạn không bị đau khớp đầu gối. Tệ hơn hoặc tốt hơn những điều mình nói là phải có vị trí trường, vùng, nhà... cụ thể nhé.
Bên Anh một chai dầu gội đầu cùng hiệu ở Việt Nam nhưng bên này chất lượng tiêu chuẩn châu Âu, chỉ có 2,1 bảng tức là khoảng hơn 60 ngàn trong khi ở Việt Nam thì 180 ngàn. 6 trái bắp lớn thì 1 bảng, một rổ táo, lê… hơn 4 kg đồng giá là 2 bảng tức là một kg hơn 10 ngàn… Mắc nhất là phương tiện vận chuyển, nhưng đối với du học sinh thì có thể giảm giá bao nguyên tháng, 50 bảng, 80 bảng, 118 bảng thì theo loại. Phòng thì 200 bảng/tháng cho một người, rẻ hơn hoặc mắc hơn tùy mình chọn đẹp xấu, xa gần, ở chung hay một mình…
Vào chơi một cái bar lớn thật đẹp ở bên Texas, một chai Heineken chỉ có 5 USD, còn thức ăn thì bao la và miễn phí. Ở Australia thì một phần ăn trưa trong trường có thể 5 hoặc 10 đô Australia tùy theo bạn ở đâu. Ở Singapore thì thức ăn cũng mắc hơn Việt Nam chút đỉnh. Nói chung là ở đâu bạn cũng chọn được chỗ rẻ hay mắc để phù hợp với túi tiền của bạn.
6. Việc làm
Singapore thì không cho làm thêm thì không nói, còn các nước khác thì cơ bản 20 tiếng/tuần, nhưng đa số các bạn làm lố giờ, có bạn làm 40 giờ/tuần. Mình chỉ biết một lần duy nhất là một bạn bên Australia bị đuổi về Việt Nam, quán phở bạn làm cách quán khác 50 m, đều là người Việt nên họ ganh tỵ nhau, nhà hàng kia điện cho cảnh sát mách là bên này thuê sinh viên làm quá giờ, thế là bạn này bị đuổi về nước và nhà hàng đó bị phạt một số tiền đáng kể. Kể chuyện này cho nhiều bạn du học sinh nghe họ bảo không có sao đâu ai mà chả làm lố giờ.
Trở lại vấn đề việc làm, rất khó nói trước vì muôn hình vạn trạng, ở nước nào cũng khó tìm việc nếu như bạn không cố gắng tìm kiếm, và việc học của bạn nặng hay nhẹ, nhưng phần lớn thì các bạn mình đều tìm được việc làm thêm. Bên Anh thì mình thấy dễ có việc làm hơn nếu như bạn ở trung tâm London. Nói chung bên Anh có thể bạn làm từ 400 bảng tới 800 bảng/tháng không khó, đảm bảo dư tiền ăn ở.
7. Học vấn
Bên Australia, New Zealand, Canada, Mỹ…, trung bình 3 năm rưỡi tới 4 năm đại học với học phí khoảng 16.000/năm (tùy theo trường nha) cứ nhân cho số năm học bạn sẽ ra học phí mà bạn phải đóng. Còn bên Anh thì 2 năm hoặc 3 năm rưỡi tùy theo ngành. Một số bạn chọn trường liên kết thì chỉ có 2 năm đại học với 10 ngàn bảng hoặc 12 ngàn bảng cho hai năm đại học, thạc sĩ thì 1 năm hoặc 16 tháng. Nếu các bạn chọn trường liên kết thì sẽ rẻ hơn, so với Mỹ, Australia, New Zealand, Canada… học phí chỉ bằng 1/3 hoặc 1/4. Dĩ nhiên tiền nào của nấy, bạn sẽ không được hưởng được các dịch vụ như phòng gym, hồ bơi, phòng thí nghiệm... Nhưng cái bằng cuối cùng được cấp là cái bằng trường công mà trường tư thục liên kết, cho nên nó có giá trị toàn cầu.
8. Sinh hoạt
Bạn sẽ được hít thở không khí trong lành hơn, đường sá sạch đẹp, môi trường thực tập tiếng Anh lý tưởng nhất… nhưng bù lại bạn phải tự lập mọi thứ và cố gắng rất nhiều, nếu bạn vừa học vừa làm thì còn cực hơn nữa. Tô phở bên này rất bự, bạn chạy bàn mà bưng hai tô là nặng rồi, có thể bạn sẽ bị phân biệt chủng tộc, bị buồn chán và nhớ Việt Nam, hoặc có thể không hòa hợp được cái vùng sâu vùng xa mà bạn tới đó học tập… Nói chung là cái nào cũng có cái giá của nó. Chọn trường học là một chuyện, cái quan trọng là coi bản thân mình cố gắng tới đâu, nếu vô một trường tốt quá mà lực học không nổi thì bạn bị rớt một số môn coi như phải đóng tiền học lại, chi phí lại phát sinh...
9. Định cư
Theo lý thuyết thì những ngành như kế toán, đầu bếp, xây dựng... sẽ có thang điểm cụ thể, tuổi, bằng cấp, người bảo lãnh, trình độ tiếng Anh, vùng sâu vùng xa.... Cộng lại trên 120 điểm bạn sẽ được định cư, nhưng thật tế rất khó. Australia thay đổi luật nhanh như chong chóng nên không biết đường mà lần. New Zealand và Canada thì dễ thở hơn một chút, bên Anh thì cũng có chính sách định cư sau 7 năm làm việc... Cái này tùy vào khả năng mỗi người rất lớn chứ không phải dễ cũng không phải khó.
Mình không phải là nhân viên tư vấn du học nhưng mình tìm hiểu rất kỹ và đọc tài liệu rất nhiều. Mình đã đi nhiều nơi và có rất nhiều bạn ở các nước nên thông tin rất chi tiết. Nếu có ý định du học một cách nghiêm túc mà các bạn lười hay không chịu khó tìm hiểu thông tin thì mình nghĩ nên ở Việt Nam hay hơn.
Theo Tiin
Mỹ là nước có tỉ lệ rớt visa rất cao. Ngoài chuyện bạn chuẩn bị kỹ hồ sơ ra, kỹ năng tiếng Anh và hiểu biết từng câu hỏi của họ để trả lời là rất quan trọng.
| Miêu tả | Loại visa | Mục đích tới Hoa Kỳ | Hạn chế | Thời hạn được phép ở Hoa Kỳ |
| Sinh viên đại học. | F1 | Bạn dự định sẽ theo học một trong các chương trình sau:
| Bạn không được phép làm việc bên ngoài trường học; Nếu làm việc trong trường học, không được phép làm quá 20 giờ/tuần trong năm học. | Thời hạn trên mẫu I-20 cộng thêm 30 ngày trước khi chương trình bắt đầu và 60 ngày sau khi chương trình kết thúc. |
| Người phụ thuộc (vợ/chồng hoặc con dưới 21 tuổi). | F2 | Bạn sẽ sống cùng với đương đơn chính mang visa F1. | Không được phép làm việc ở Hoa Kỳ. | |
| Sinh viên học nghề. | M1 | Bạn dự định theo học một khoá đào tạo nghề hoặc theo học tại các cơ sở đào tạo khác đã được chính phủ Hoa Kỳ công nhận. | Thời hạn trên mẫu I-20 cộng thêm 30 ngày nhưng gộp lại không được quá 1 năm. | |
| Người phụ thuộc (vợ/chồng hoặc con dưới 21 tuổi). | M2 | Bạn sẽ sống cùng với đương đơn chính mang visa M1. | Không được phép làm việc ở Hoa Kỳ. |
Bạn cần có mẫu I-20 khi bạn đến phỏng vấn. Chúng tôi không thể cấp visa cho bạn cho đến khi bạn có thể xuất trình mẫu I-20. Nếu ngày dự định tới Hoa Kỳ của bạn cách ngày phỏng vấn hơn một tháng nữa, bạn có thể mang bản sao của mẫu I-20 đi phỏng vấn. Tuy nhiên, bạn sẽ phải xuất trình bản I-20 gốc tại cửa khẩu nhập cảnh của Hoa Kỳ.
Mẫu I-20 không phải là visa. Nếu bạn đến Hoa Kỳ bằng mẫu I-20 mà không có visa sinh viên, bạn sẽ không được phép nhập cảnh vào Hoa Kỳ mà phải quay trở về nước mà bạn đã xuất phát.
Đừng gửi cho chúng tôi tên truy cập và mật khẩu của bạn để truy cập vào tài khoản của bạn ở trường. Thông tin này chỉ để cá nhân bạn sử dụng và bạn không nên chia sẻ với bất kỳ ai, kể cả với chúng tôi.
- Thư chấp thuận để bạn trở thành sinh viên toàn thời gian tại một cơ sở đào tạo đã được chính phủ Hoa Kỳ chấp thuận. Cơ sở đó sẽ cấp cho bạn một mẫu I-20 có số SEVIS (Hệ thống quản lý Thông tin Sinh viên và Khách trao đổi).
- Chuẩn bị phù hợp về mặt học vấn, được thể hiện qua học bạ, để chuẩn bị cho khóa học mà bạn dự định sẽ theo học.
- Khả năng tiếng Anh phù hợp hoặc bằng chứng nhà trường sẽ đào tạo thêm tiếng Anh cho bạn.
- Nguồn tài chính sẵn có cho năm học đầu tiên. Ngoài ra bạn phải thuyết phục được viên chức lãnh sự rằng bạn cũng sẽ có sẵn nguồn tài chính đầy đủ cho các năm học tiếp theo, trừ khi có chuyện bất thường. Sau đây là ví dụ về những giấy tờ tài chính có thể được chấp nhận: thư trao học bổng, tiền thưởng hoặc trợ giúp tài chính từ trường mà bạn sẽ theo học; hồ sơ kinh doanh của gia đình, hoá đơn thuế, hồ sơ nhà đất, hoặc sổ tiết kiệm. Giấy xác nhận của ngân hàng không được coi là giấy tờ tài chính.
- Ràng buộc chặt chẽ với đất nước nơi bạn xin visa.
- Các dấu hiệu cho thấy bạn sẽ rời Hoa Kỳ sau khi kết thúc khoá học.
- Hộ chiếu còn hạn sử dụng.
- Trang xác nhận của Đơn xin visa điện tử (DS-160).
- Ảnh cỡ 5cm x 5cm nền màu trắng mới chụp trong vòng sáu tháng, lộ rõ hai tai.
- Bằng chứng nộp phí xét đơn.
- Bằng chứng nộp phí SEVIS.
- Mẫu I-20 do tổ chức bảo trợ đã được Chính phủ Hoa Kỳ phê chuẩn cấp cho từng đương đơn.
- Giấy tờ hậu thuẫn cho đơn xin visa của bạn.
Những người phụ thuộc xin visa không cùng lúc với đương đơn chính cần phải có giấy tờ sau:
- Bản sao mẫu I-20 của đương đơn chính.
- Bản sao visa F1 hoặc M1 của đương đơn chính.
- Hồ sơ kết hôn hoặc khai sinh để chứng tỏ mối quan hệ với đương đơn chính.
- Mẫu I-20 mới hoặc mẫu I-20 được viên chức nhà trường xác nhận trong vòng 12 tháng.
- Bảng điểm.
Thị thực sinh viên F-1 (Dành cho những sinh viên muốn học tại một trường đại học, trung học hoặc viện ngôn ngữ)
Để xin thị thực sinh viên, bạn phải chứng minh rằng:
Bạn đã được tiếp nhận làm một sinh viên toàn thời gian bởi một trường đã được chính phủ Hoa Kỳ công nhận và trường này sẽ cấp cho bạn một Mẫu I-20 có số SEVIS (Hệ thống Thông tin dành cho Sinh viên và Khách trao đổi).
Mẫu I-20 cần có mã vạch bên phía tay phải và có chữ ký của cán bộ nhà trường. Bạn bắt buộc phải có mẫu này khi xin thị thực sinh viên. Mẫu I-20 không phải là thị thực.
Nếu bạn đến Hoa Kỳ với mẫu I-20 nhưng không có thị thực, bạn sẽ không được phép nhập cảnh vào hoa Kỳ.
Những đương đơn xin thị thực sinh viên phải nộp lệ phí xét đơn cộng với $200 phí SEVIS. Bạn phải nộp cả hai loại phí này trước khi nộp đơn xin thị thực.
Chuẩn bị hồ sơ học tập phù hợp có thể bao gồm học bạ, bảng điểm và chương trình học tập tại Hoa Kỳ.
Kỹ năng tiếng Anh phù hợp, ví dụ như điểm TOEFL hoặc SAT, hoặc bằng chứng là nhà trường biết rõ về khả năng tiếng Anh của bạn và sẽ bồi dưỡng thêm tiếng Anh cho bạn.
Nguồn tài chính đủ cho năm học đầu tiên. Bạn cũng phải thuyết phục được viên chức phỏng vấn rằng, trừ khi có lý do khách quan không lường trước được, bạn có đủ tiền cho từng năm học tiếp theo, từ cùng một nguồn, hoặc từ những nguồn tài chính có thể xác định cụ thể và đáng tin cậy.
Sau đây là một số ví dụ về giấy tờ tài chính có thể chấp nhận được:
- Học bổng,
- Thư hỗ trợ tài chính của trường bạn theo học,
- Giấy tờ kinh doanh của gia đình,
- Biên lai thuế.
- Giấy tờ nhà, đất hoặc sổ tiết kiệm.
- Thư xác nhận tiền gửi ngân hàng không được chấp nhận làm bằng chứng chứng minh nguồn tài chính.
- Ràng buộc chặt chẽ với nước mà từ đó bạn đang xin thị thực đến Hoa Kỳ để chứng tỏ rằng bạn sẽ rời Hoa Kỳ sau khi kết thúc khoá học.
Các bước chuẩn bị trước khi phỏng vấn xin thị thực
- Phải điền đầy đủ và in mẫu đơn xin thị thực DS-156 (còn gọi là Mẫu Đơn Xin Thị Thực Điện Tử hay EVAF) trước khi lấy hẹn phỏng vấn. Tất cả 3 trang của mẫu đơn này phải được in bằng máy in laser. Đóng lệ phí xin thị thực.
- Chụp hình thẻ
- Chuẩn bị các giấy tờ cần thiết
- Sử dụng hộ chiếu còn hiệu lực
- Đương đơn phải sử dụng hộ chiếu còn giá trị để du lịch đến Mỹ với thời hạn hiệu lực ít nhất 6 tháng kể từ ngày kết thúc chuyến đi dự kiến đến Mỹ.
- Đăng ký cuộc hẹn phỏng vấn trên mạng
- Đóng lệ phí xin thị thực $131 tại Ngân hàng Citibank, địa chỉ 17 Ngô Quyền, Hà Nội. Ngân hàng Citibank làm việc buổi sáng từ 8h30 – 11h30, buổi chiều từ 13h00 – 15h30, thứ Hai đến thứ Sáu.
Đến Đại sứ quán hay Lãnh sự để tham dự cuộc phỏng vấn
Bạn nên đến không sớm hơn 20 phút trước giờ hẹn phỏng vấn. Nếu đơn xin thị thực được chấp thuận, bạn sẽ được phát một phiếu cấp thị thực. Bất kỳ ai mang theo phiếu này đều có thể nhận hộ chiếu và thị thực của bạn vào ngày làm việc kế tiếp lúc 3 giờ chiều, chỉ từ thứ Hai đến thứ Sáu.
Nếu bị từ chối cấp thị thực, bạn sẽ được trả lại hộ chiếu cùng những giấy tờ cần thiết khác ngay sau cuộc phỏng vấn. Vui lòng xem mục Từ chối cấp Thị thực trên trang web của Đại Sứ quán để có thêm thông tin.
Lưu ý: Những đương đơn không mang theo thư hẹn, biên lai đóng tiền, mẫu đơn xin thị thực và hộ chiếu sẽ không được phép vào Đại sứ quán. Đương đơn đến muộn 30 phút so với lịch hẹn sẽ không được được phép vào Đại sứ quán và phải xin lịch hẹn mới trên mạng.
Đương đơn phải nộp hộ chiếu có thời hạn sử dụng ít nhất 6 tháng và còn đủ các trang trắng cũng như các hộ chiếu cũ và hộ chiếu đang sử dụng khác. Sinh viên xin thị thực du học và thị thực trao đổi văn hoá cũng phải nộp mẫu đơn I-20 hoặc mẫu đơn DS-2019 và biên lai đóng phí SEVIS.
Chúng tôi chỉ có thể cấp thị thực sinh viên tối đa là 120 ngày trước ngày bắt đầu học hoặc ngày đăng ký ghi trên mẫu I-20. Ngoài ra, chúng tôi không thể cấp thị thực sinh viên/thị thực trao đổi khách nếu ngày bắt đầu chương trình ghi trên mẫu I-20/DS-2019 đã qua.
Nói chung, cơ quan xuất nhập cảnh Hoa Kỳ không cho sinh viên/khách trao đổi nhập cảnh sớm hơn 30 ngày so với ngày bắt đầu chương trình. Sinh viên/khách trao đổi nên lưu ý các quy định này khi lập kế hoạch nộp đơn và kế hoạch đi Mỹ. Các sinh viên/khách trao đổi đã đi Mỹ và quay về thăm nhà không phải tuân theo các quy định này.
Ngoài phí xét đơn, sinh viên (visa F1) còn phải nộp thêm một loại phí gọi là phí SEVIS (phí quản lý Hệ thống Thông tin Sinh viên). Kể từ 27/10/2008, phí SEVIS là 200 đô-la Mỹ.
Nguồn: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/
Đa số du học sinh đến Australia du học đều thuộc diện du học tự túc. Tuy nhiên, cũng có một lựa chọn khác là nộp đơn xin học bổng.

Nguồn học bổng thường do Chính Phủ Australia, các cơ sở giáo dục và một số tổ chức khác cung cấp. Học bổng bao quát nhiều lĩnh vực giáo dục khác nhau, bao gồm đào tạo và dạy nghề, trao đổi sinh viên, đại học, sau đại học và nghiên cứu. Chính Phủ Australia không có học bổng dành cho du học sinh theo học Anh ngữ tại Australia. Tuy nhiên, các cơ sở giáo dục Australia cũng có một số học bổng dành cho các khóa học Anh ngữ.
Để tìm hiểu thêm thông tin về các chương trình học bổng tại Australia, mời bạn sử dụng Trang Thông Tin Học Bổng. Tại đây, bạn sẽ tìm thấy danh sách đáng tin cậy và chính xác về tất cả học bổng do các tổ chức có trụ sở tại Australia, các trường và các cơ quan chính phủ dành cho sinh viên quốc tế đang và sẽ theo học tại Australia theo thị thực du học.
Học Bổng Chính Phủ Australia (Australian Scholarships)
Học Bổng Chính Phủ Australia là một sáng kiến của Chính Phủ Australia nhằm liên kết và mở rộng các chương trình học bổng hiện có ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương do Cơ Quan Phát Triển Quốc Tế Australia (Australian Agency for International Development – AusAID) và Bộ Giáo Dục, Nhân Dụng và Quan Hệ Công Sở (Department of Education, Employment and Workplace Relations – DEEWR) quản lý. Học Bổng Chính Phủ Australia còn giới thiệu một chương trình học bổng mới do tổ chức AusAID quản lý có tên gọi Học Bổng Năng Lực Lãnh Đạo Australia (Australian Leadership Awards). Thông tin chi tiết có thể tìm thấy tạiwww.australianscholarships.gov.au/
Dưới đây là ba chương trình Học Bổng Chính Phủ Australia:
Chương Trình Học Bổng Endeavour (Endeavour Programme) – liên kết toàn bộ các chương trình học bổng giáo dục quốc tế do Bộ Giáo Dục, Nhân Dụng và Quan Hệ Công Sở Australia quản lý. Chương Trình Học Bổng Endeavour quảng bá chất lượng xuất sắc của các ngành giáo dục, khoa học và đào tạo Australia thông qua những suất học bổng du học ngắn – dài hạn dành cho những sinh viên, nghiên cứu sinh và chuyên gia đạt thành tích cao trong nhiều lĩnh vực. Chương trình này còn khuyến khích các cá nhân xuất sắc của Australia ra nước ngoài du học. Thông tin chi tiết có thể tìm thấy tại: www.endeavour.deewr.gov.au/
Học Bổng Năng Lực Lãnh Đạo Australia (ALA) – chú trọng phát triển năng lực của các nhà lãnh đạo, những người có tầm ảnh hưởng tới cải cách chính sách và phát triển kinh tế xã hội của đất nước họ cũng như của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Học Bổng Năng Lực Lãnh Đạo Australia dành các suất học bổng sau đại học tại Australia và các cơ hội nghiên cứu chuyên ngành, học tập hay cộng tác chuyên môn ngắn hạn thông qua làm việc ở các tổ chức của Australia. Thông tin chi tiết có thể tìm thấy tại: www.ausaid.gov.au/scholar
Học Bổng Phát Triển Australia (Australian Development Scholarships – ADS) – nhằm đóng góp vào các nhu cầu phát triển lâu dài của các quốc gia đối tác của Australia để thúc đẩy quản lý nhà nước hiệu quả, tăng trưởng kinh tế và phát triển con người. Học Bổng Phát Triển Australia trang bị những kỹ năng và kiến thức cần thiết để thúc đẩy thay đổi và tạo ảnh hưởng đối với những thành quả phát triển của quốc gia thông qua các chương trình lấy bằng đại học và cao học tại Australia. Thông tin chi tiết có thể tìm thấy tại: www.ausaid.gov.au/scholar
Các quỹ tài trợ khác
Các tổ chức từ thiện và tổ chức quốc tế cũng cung cấp học bổng cho du học sinh. Bạn phải nộp đơn xin học bổng này ở quê nhà, thay vì ở Australia. Khu mạng Hiệp Hội Các Trường Đại Học Khối Thịnh Vượng Chung (Association of Commonwealth Universities) có thông tin hướng dẫn về các chương trình học bổng dành cho sinh viên các nước thuộc khối Thịnh Vượng Chung muốn theo đuổi chương trình sau đại học. Ðây là các chương trình học bổng của các Chính Phủ và tổ chức như Rotary International, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank), Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organisation), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (Asian Development Bank), Liên Hiệp Quốc (United Nations), Quỹ Rockefeller (Rockefeller Foundation) và một số tổ chức khác.
1. Australian Development Scholarships (ADS) strengthens human resource capacity in Australia’s
partner countries to contribute to long-term development needs and promote greater stability (AusAID).
Link: http://www.ausaid.gov.au/scholar/studyin.cfm
2.Australian Leadership Awards (ALA), a regional programme, aims to develop leadership, build
partnerships and links, and address priority issues in the Asia-Pacific region (AusAID).
There are 2 kinds of ALA Awards:
2.1. Australian Leadership Award — Scholarships: An ALA Scholarship can be valued up to A$130,000
for Masters degrees and A$250,000 for Doctorate programmes, with additional value included in the
Leadership Development Programme
Link: http://www.ausaid.gov.au/scholar/ala.cfm
2.2 Australian Leadership Award – Fellowships:
- Are for short-term study, research, and professional attachment programmes in Australia delivered by Australian organisations.
- ALA Fellowships complement the longer term. ALA Scholarships providing opportunities to
senior officials who cannot leave their positions for extended periods. ALA Fellowships is a highly flexible
programme offering professional development opportunities to current and future leaders from the
Asia-Pacific region by leveraging existing linkages between Australia and countries in the region.
- ALA Fellowships are available across a broad range of fields relevant to Australia’s foreign policy agenda or
development outcomes within the Asia-Pacific region.
- Applications relating to the following priority regional themes of international trade, pandemics, security and climate change (including clean energy) are encouraged.
Link: http://www.ausaid.gov.au/scholar/alafellow.cfm
* The Học Mãi Foundation was awarded an Australian Leadership Award (ALA) grant from AusAID in order to support 30 doctors, nurses, pharmacists and technicians from various hospitals and universities in Viêt Nam to study in Australia.
http://www.hocmai.org/scholarships/index.php
3. Endeavour Programme focuses on strengthening education linkages, skills and knowledge throughout
the region, while showcasing Australia’s excellence in education, science and training (DEST).
http://www.endeavour.deewr.gov.au/endeavour_awards/
This Endeavour Programme is categorised into these specific kinds:
3.1. The Endeavour Postgraduate and Postdoctoral Awards include:
- Endeavour Postgraduate Awards
- Endeavour Research Fellowships
- Endeavour Malaysia Awards --> not Vietnam
- Endeavour Awards for Turkey --> not Vietnam
- Endeavour Australia Cheung Kong Research Fellowships ( tìm hiểu ở đây: http://www.endeavour.deewr.gov.au/stude ... g_kong.htm )
- Endeavour Research Fellowships for Indigenous Australians ( * Indigenous Australians là người bản xứ Úc --> not Vietnam)
3.2. The Endeavour Vocational Education and Training (VET) Awards
3.3. The Endeavour Executive Awards
3.4. Endeavour Student Exchange Programmes: includes three student exchange programmes which provide subsidies to Australian providers to enable undergraduate students to incorporate an international education experience
into their degree.
- The Australian University Mobility in Asia and the Pacific (UMAP) Programme
- The Endeavour Student Exchange Programme
- The Endeavour Cheung Kong Student Exchange Programme
Thông tin scholarships and fellowships ( pdf file) : http://www.ausaid.gov.au/scholar/pdf/scholarships.pdf
Muốn biết thêm chi tiết về từng loại cụ thể, tiêu chí tuyển chọn, cam kết... các bạn vô trang chủ này nhé :
http://www.ausaid.gov.au/scholar/default.cfm
Tips kiếm học bổng Úc :
Theo dõi cập nhật thường xuyên trang web chủ (http://www.ausaid.gov.au/scholar/default.cfm) và những đường link ở trên.
Học bổng Úc thường có căn cứ vào yếu tố academic transcriptions (học bạ) của mình ở bậc đại học để xét Master, và Master để xét Doctorate nữa. Tuy vậy đó chỉ là một yếu tố chứ không phải tất cả. Các bạn nào có nguyện vọng theo đuổi học bổng hãy xác lập:
- Một mục tiêu, ý chí quyết tâm cao (strong motivation), kế kế hoạch rõ ràng, kỹ lưỡng, chắc chắn học tốt ở Uni
- Tham gia hoạt động phong trào SV, community tốt
- Chuẩn bị điểm tiếng Anh IELTS
- Học hỏi cách viết proposal xin học bổng và hỏi những người có kinh nghiệm được học bổng đi trước tham vấn các bước viết, thuyết phục... ( Họ luôn giữ application forms của những người đã được nên không thể bắt chước/ copy được).
CHAAN (Tổng hợp)
Chào tất cả các bạn, đặc biệt là những bạn quan tâm đến du học và săn học bổng. Theo tôi, việc săn học bổng và nộp hồ sơ theo học ở nước ngoài có mối quan hệ mật thiết với nhau, và gần như bạn phải tiến hành đồng thời cả 2 quá trình trên.

Đây là một cuộc chiến dai dẳng, đòi hỏi sự nỗ lực tối đa của mỗi cá nhân. Nếu không kiên trì và nhẫn nại, bạn không nên theo đuổi việc săn học bổng vì thời gian cần thiết để săn học bổng thường tối thiểu là 2 năm.
Trong quãng thời gian đó, nhiều lúc bạn cảm thấy chán nản, lo âu, hồi hộp, thậm chí muốn buông xuôi hay bỏ cuộc. Vì vậy trước khi bắt đầu, bạn phải xác định đây là cuộc đua marathon và không có chỗ dành cho các vận động viên nghiệp dư. Cá nhân tôi cũng vậy, tôi mất hơn 2 năm để tìm học bổng và trường theo học, và thật may mắn, tôi có được 2 học bổng khác nhau, một là học bổng của Chính phủ Việt Nam (Đề án 322) để theo học ở Pháp và một là học bổng của Chính phủ Nhật (học bổng Monbusho hay còn gọi là học bổng MEXT) để theo học tại trường Đại học Tổng hợp Tokyo. Vì vậy những kinh nghiệm của tôi sẽ đặc biệt liên hệ đến 2 hình thức học bổng này, ngoài ra còn có một số kinh nghiệm khác tôi biết được trong quá trình săn học bổng. Tôi hi vọng các bạn sẽ tìm được cho mình con đường đúng đắn trong quá trình săn học bổng và may mắn.
I. KHỞI ĐỘNG
Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình săn học bổng và là giai đoạn quan trọng nhất. Trong giai đoạn này, bạn cần trả lời một cách trung thực những câu hỏi như:
1. Mục đích kiếm học bổng là gì?
2. Mình có thật sự muốn tìm học bổng không?
3. Cơ hội dành cho mình là bao nhiêu?
4. Nên bắt đầu từ đâu?
5. ...
Tuy đây chỉ là những câu hỏi sơ bộ, nhưng hết sức cần thiết, vì bạn phải xác định rõ mục tiêu, mong muốn và khả năng của mình rồi mới bắt đầu công việc được. Khi biết tin tôi được học bổng, có nhiều bạn muốn tôi chia sẻ kinh nghiệm cá nhân và chỉ cho họ cách để đạt được học bổng nào đó. Có nhiều người khi hỏi câu này thì vẫn chưa xác định được mục đích kiếm học bổng của họ là gì và họ có thực sự muốn tìm học bổng hay không. Có người khi nghe tôi hỏi là có chấp nhận hi sinh bớt công việc hiện tại để dành sức cho việc săn học bổng không thì có vẻ lưỡng lự, chỉ điều đó thôi cũng đủ chứng tỏ họ chưa sẵn sàng cho việc săn học bổng. Bởi nếu đã sẵn sàng thì họ sẽ khẳng định chứ không còn lưỡng lự nữa.
Do đó việc đầu tiên bạn cần phải làm là xác định lại tư tưởng cho mình, chỉ sau khi bạn đã hoàn toàn sẵn sàng thì cơ hội mới thực sự tìm đến bạn. Tôi xin lấy ví dụ từ chính bản thân mình, năm đầu tiên xin học bổng để đi du học ở Pháp, tôi nghĩ nó sẽ đến với mình vì lúc đó tôi nghĩ mình là người xứng đáng (sau khi đã xem xét các đối thủ, tiêu chí và quy trình tuyển chọn) được học bổng mà không hề nghĩ mình sẽ làm gì để cụ thể hoá nó cả. Vì vậy hồ sơ của tôi hết sức sơ sài và không có gì nổi bật, thậm chí còn có cả lỗi chính tả.
Sau này khi biết tin mình trượt, tôi đã rút ra được bài học thấm thía, đó là không bao giờ chủ quan và làm việc với tinh thần như vậy nữa. Nếu bạn làm việc với tinh thần là cầu may hay chỉ nghĩ được thì tốt, không được cũng không sao thì tôi nghĩ cơ hội của bạn đã giảm đi đáng kể, thậm chí không muốn nói là rất thấp. Do vậy giai đoạn này có thể tóm tắt bằng những bước như sau:
Xác định mục tiêu -> Lập kế hoạch -> Bắt tay vào hành động
II. KIẾM HỌC BỔNG DỄ HAY KHÓ?
Sau khi bạn thực sự quyết tâm 100% cho việc săn học bổng thì tôi có thể khẳng định rằng, việc kiếm học bổng không dễ, nhưng không quá khó. Tuy nhiên, đối với các học bổng danh giá thì ngoài các yếu tố quyết tâm, tài năng bạn còn phải có một chút may mắn nữa vì ở đó cuộc đua sẽ hết sức khốc liệt.
Tại sao tôi lại nghĩ nó không quá khó, đơn giản vì có rất nhiều học bổng tính cạnh tranh của nó không thật sự cao, nhiều khi chỉ vì bạn không để ý hoặc không quan tâm nên đã bỏ qua. Cũng có rất nhiều học bổng chỉ được truyền nhau qua bạn bè, anh em mà không hề có thông báo chính thức (thông báo ở Việt Nam hay trên Internet). Do đó khi bạn quan tâm đến học bổng, bạn sẽ tìm đủ cách để xem ở đâu có thể xin được học bổng, rõ ràng khi đó cơ hội của bạn sẽ tăng lên đáng kể. Trên thực tế, có rất nhiều người có đủ khả năng nhưng họ lại không tự tin có thể kiếm được học bổng hoặc nghĩ rằng học bổng không dành cho họ, như vậy khả năng được học bổng của họ là rất thấp dù họ là người có năng lực.
Cách đây mấy năm, khi học bổng của Liên minh Châu âu (Học bổng Erasmus Mundus) ra đời và có chương trình cửa sổ Châu á dành riêng cho các học sinh khu vực Châu á muốn sang học tập tại Châu âu, lúc đó rất ít sinh viên Việt Nam được biết, chủ yếu là du học sinh Việt Nam ở Châu âu mới có tin này. Vì vậy số lượng sinh viên Việt Nam nộp hồ sơ rất hạn chế. Nếu lúc đó bạn được biết tin này, chắc chắn cơ hội đạt học bổng của bạn cao hơn rất nhiều. Hay có rất nhiều chương trình học bổng của ngành, của bộ mà có thể rất nhiều bạn đến tận giờ bạn vẫn chưa biết, dù nó rất gần bạn.
Tôi xin lấy ví dụ: học bổng của Tổng công ty Dầu khí dành cho con em trong ngành, học bổng đi học ở Trung Quốc của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam ưu tiên cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ngay cá nhân tôi cũng vậy, trong quá trình đi tìm hiểu học bổng, tôi phát hiện ra rất nhiều học bổng mà trước đó tôi chưa từng nghĩ tới. Câu này các cụ nhà ta nói đúng “đi một ngày đàng, học một sàng khôn”.
III. CÁC LOẠI HỌC BỔNG:
Có rất nhiều dạng học bổng khác nhau, tuy nhiên tôi tạm phân loại ra như sau:
1. Học bổng chính phủ, vùng, bang
2. Học bổng của các tổ chức
3. Học bổng của các trường đại học
4. Học bổng dưới dạng nghiên cứu, trợ giảng, ...
(1) Học bổng Chính phủ:
Thường là những học bổng danh giá, có tính cạnh tranh cao (do có giám khảo là người nước ngoài và họ là người ra quyết định, giám khảo người Việt mang tính tham khảo nhiều hơn), dành cho việc theo học tại nước cấp học bổng. Nếu có được học bổng này, bạn sẽ nhận được rất nhiều ưu đãi như: chi phí đi lại, sinh hoạt phí, tiền bảo hiểm, thủ tục visa. Ở Việt Nam, có rất nhiều học bổng như thế và thường được đại sứ quán các nước đặt ở Việt Nam quản lý, điều tiết. Ví dụ như học bổng của chính phủ Nhật (Monbusho), học bổng của chính phủ Pháp (Evaris Galois), học bổng của chính phủ Đức (DAAD). Bạn nên vào trang web của đại sứ quán các nước tại Việt Nam để biết thêm chi tiết.
Ngoài ra để biết những học bổng chính phủ có liên kết với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, bạn có thể vào trang web của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bản thân tôi cũng rất ngạc nhiên khi thấy thậm chí những nước như Mông Cổ cũng có học bổng này dành cho sinh viên Việt Nam. Vì vậy nếu bạn thực sự quan tâm sao không thử nhỉ, biết đâu bạn lại tìm thấy cơ hội cho mình. Ngoài ra còn có học bổng của các vùng, bang dành cho sinh viên ngoại quốc.
Những học bổng này thực sự rất khó biết, nếu không đi sâu tìm hiểu rất khó để biết được là nó có tồn tại hay không. Có thể lấy ví dụ như: ở Pháp có học bổng vùng Ile de France, vùng Rhôn - Alpe ... hay ở Nhật hầu như chính quyền các vùng đều có học bổng, bạn có thể tham khảo ở trang web của jasso (Error! Hyperlink reference not valid.
(2) Học bổng của các tổ chức, công ty:
Thông thường đây là học bổng do các tổ chức quốc tế có mặt ở Việt Nam cung cấp. Những học bổng này thường cung cấp cho những chuyên ngành cụ thể (thường cùng ngành với công ty, tổ chức cấp học bổng), hoặc đa ngành (thường do các tổ chức phi chính phủ cấp). Như học bổng của tổ chức AUF (agence universitaire de la francophonie) chẳng hạn dành cho tất cả các ngành và dành cho sinh viên khối pháp ngữ, hay học bổng của ngân hàng phát triển châu á ADB cung cấp cho sinh viên theo học tại một số trường được chỉ định, hoặc học bổng của công ty Panasonic thì chỉ cung cấp cho một số ngành như điện tử, tự động hoá. Nói chung học bổng này có tính cạnh tranh cao, và đảm bảo tất cả các chi phí cơ bản cho việc học ở nước ngoài.
(3) Học bổng của các trường đại học:
Thông thường các trường đại học ở nước ngoài có quan hệ rất tốt với các cá nhân, tổ chức, công ty. Họ thường tìm cách vận động để các cá nhân, tổ chức và công ty đó cung cấp học bổng cho sinh viên nước ngoài theo học tại trường họ. Như vậy khi bạn có ý định nộp hồ sơ xin học bổng này bạn cần tìm hiểu trang web của trường và của tổ chức tài trợ để lấy thông tin cụ thể.
Một số công ty, tổ chức có thể lồng thêm vào đó các điều kiện kèm theo như ký hợp đồng cam kết làm việc cho họ sau khi ra trường, tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy. Ví dụ như học bổng của Ngân hàng Phát triển Châu á ADB dành cho sinh viên theo học ở một số trường trong khu vực, chỉ yêu cầu cam kết sau khi học xong sẽ trở về cơ quan cũ mà không hề có ràng buộc phải làm việc cho họ sau khi ra trường. Thông thường để nhận được học bổng này bạn phải làm hồ sơ theo học tại trường, và nộp đơn xin học bổng qua trường.
(4) Học bổng dưới dạng nghiên cứu, trợ giảng...
Khác với các giáo sư Việt Nam, các giáo sư nước ngoài có vai trò rất lớn trong việc nhận ai đó vào học bởi họ có quyền và có chi phí nghiên cứu riêng, do đó nếu được sự ủng hộ của các giáo sư thì khả năng được nhận vào học và có học bổng (thông qua hình thức trợ giúp nghiên cứu RA, hoặc trợ giảng RA) sẽ cao hơn rất nhiều. Do đó, tôi khuyến khích các bạn nên liên hệ với các giáo sư của trường nộp hồ sơ, trước là gây dựng quan hệ, sau là xác định hướng nghiên cứu và đề tài nghiên cứu. Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hồ sơ của bạn là thư giới thiệu (letter of recommendation), nếu bạn quan hệ tốt với các giáo sư thì có thể họ sẽ viết thư giới thiệu cho bạn, bạn biết đấy, nếu được giáo sư của khoa giới thiệu thì khả năng hồ sơ của bạn được chấp nhận sẽ rất lớn.
Ngoài ra việc tìm hiểu về các giáo sư trong khoa sẽ giúp bạn hiểu hơn về hướng nghiên cứu của giáo sư, từ đó chọn ra hướng nghiên cứu phù hợp với mình. Bạn đừng ngại trong việc liên lạc với các giáo sư và cũng đừng nản chí nếu một số lá thư đầu tiên không được trả lời. Đôi khi bạn phải kiên nhẫn vì nhiều giáo sư họ rất bận, nên có thể họ bỏ qua thư của bạn. Trong tình huống này, bạn nên viết thư hỏi tiếp, tất nhiên là cùng nội dung nhưng cách hỏi phải khác đi, giọng văn khác đi (các bạn nên có một quyển tuyển tập các bài viết thư mẫu, rất tiện dụng trong những tình huống như thế này).
Các giáo sư khi đã thân quen rồi thì việc trả lời giúp bạn sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, có thể họ còn tư vấn cho bạn trong một số lĩnh vực nhất định, thậm chí can thiệp cả vào quyết định có tiếp nhận bạn vào trường hay không. Tôi có thể khẳng định, những du học sinh đi theo học bổng của VEF, nếu không có các thư giới thiệu và giúp đỡ của các giáo sư Hoa Kỳ sẽ rất khó được nhận vào các trường top ở Hoa Kỳ. Tất nhiên có bạn có được học bổng mà không đi qua con đường này, nhưng nó mở rộng cơ hội của bạn thì tại sao bạn lại không thử nhỉ.
Ngoài những học bổng nói trên, còn có các dạng học bổng khác, tuy nhiên đây là những dạng học bổng cơ bản, dễ nắm bắt thông tin và các bạn có thể tiếp cận được.
IV. CÁCH THỨC SĂN HỌC BỔNG VÀ NỘP HỒ SƠ XIN HỌC.
(1). Chủ động tìm kiếm thông tin
Bạn là người đi tìm học bổng, do đó phải hết sức chủ động trong việc tìm kiếm và tự giải đáp các câu hỏi trong khi săn học bổng. Bạn đừng hi vọng tìm được tất cả các câu trả lời thông qua người khác, cũng đừng hi vọng khi đưa lên diễn đàn một câu hỏi chung chung mà có được câu trả lời xác đáng. Tôi thấy có rất nhiều bạn đặt ra câu hỏi rất chung chung trên một số diễn đàn du học như làm thế nào để tìm được học bổng? Học ở đâu thì tốt? Chi phí học tập ở một nước nào đó là bao nhiêu?
Nếu thực sự bạn muốn tìm học bổng thì nên tự tìm hiểu thông tin và trả lời các câu hỏi đó, đừng hi vọng có câu trả lời thoả đáng cho câu hỏi này thông qua người khác. Vậy bạn sẽ tìm kiếm thông tin ở đâu? Theo tôi, quan trọng nhất vẫn là trang web của trường vì nó cung cấp cho bạn những thông tin quan trọng nhất, kế đó là các diễn đàn du học và các trang web về giáo dục. Thông thường các quốc gia và các trường đại học luôn muốn quảng bá hình ảnh giáo dục của nước và trường mình nên họ sẽ xây dựng các trang web về giáo dục nước đó hoặc về trường đó.
Ở đó, bạn có thể tìm được rất nhiều thông tin như các ngành học, xếp hạng các trường, các kỳ thi và các chứng chỉ cần có, những yêu cầu tối thiểu. Nếu bạn cũng chưa biết bắt đầu từ đâu nữa thì tốt nhất các bạn nên đến đại sứ quán nước bạn dự định đi học để tìm hiểu thông tin. Bạn hãy yên tâm, thông tin ở đó rất nhiều và hoàn toàn miễn phí, lại còn được chỉ dẫn tận tình. Ngoài ra, các triển lãm du học cũng là một kênh thông tin rất bổ ích, ở đó bạn có thể có cơ hội gặp gỡ trực tiếp với đại diện trường định nộp hồ sơ, hiểu biết về nền giáo dục một nước nào đó, được thể hiện và thực hành ngoại ngữ ...
Tôi cũng không nhớ nổi là mình đã đi bao nhiêu triển lãm du học rồi, có những triển lãm rất bổ ích (do các đại sứ quán hoặc cơ quan giáo dục nước ngoài tổ chức), có những triển lãm du học thực sự vô bổ (do các công ty tư nhân của Việt nam tổ chức). Dù bạn tìm hiểu thông tin theo cách nào thì cũng luôn nhớ: tự tìm hiểu và trả lời những câu hỏi thắc của mình trước, trong trường hợp chưa biết có thể đặt câu hỏi nhưng phải là những câu hỏi cụ thể, tránh câu hỏi chung chung như tôi đã nêu ở trên.
(2) Tự đánh giá khả năng của bạn
Bạn phải tự xác định khả năng của mình thông qua tiêu chí của các tổ chức cấp học bổng để tìm được học bổng phù hợp. Nếu không, có thể bạn sẽ nộp hồ sơ vào những học bổng có yêu cầu cao hơn khả năng của bạn, dẫn đến giảm cơ hội nhận được học bổng. Còn nếu như bạn nộp hồ sơ xin học bổng vào những nơi mà yêu cầu thấp hơn so với khả năng của bạn thì có thể nó sẽ không đáp ứng được kỳ vọng của bạn. Do đó tự đánh giá khả năng của bạn sẽ là rất quan trọng.
Tuy nhiên, đánh giá khả năng của mình như thế nào thì lại rất khó (không chỉ là năng lực bản thân mà còn là khả năng nhận được học bổng), vì nó tuỳ thuộc vào tiêu chí đặt ra của các tổ chức cấp học bổng, có thể đối với tổ chức này bạn trở nên yếu thế nhưng với tổ chức khác bạn lại trở nên mạnh hơn rất nhiều. Do đó việc đánh giá khả năng của bạn tuỳ thuộc vào tiêu chí của tổ chức bạn dự định nộp hồ sơ. Điều này dẫn đến việc tìm hiểu học bổng của tổ chức cần nộp hồ sơ là hết sức cần thiết. Chẳng hạn, nếu bạn dự định thi học bổng 322 (Học bổng của Chính phủ Việt Nam) thì bạn phải là công chức nhà nước, nếu không, dù có giỏi đến mấy bạn cũng không thể có được học bổng này.
Khi thi học bổng 322, bạn cần đánh giá đối thủ chính của mình là các giảng viên đại học (đặc biệt giáo viên của trường được ủy quyền tổ chức thi tuyển), các công chức làm việc trong viện nghiên cứu. Trong trường hợp này, đối thủ của bạn rõ ràng dễ xác định vì làm cùng ngành với mình, đặc biệt nếu bạn là cựu sinh viên của trường tổ chức thi. Ngược lại, học bổng của VEF chẳng hạn, có thể một vài ngành mới có một chỉ tiêu chung. Khi đó bạn phải chiến đấu không những với người cùng ngành mà còn người ngành khác, vì thế xác định đối thủ và khả năng đạt học bổng của mình sẽ khó hơn nhiều.
V. CHUẨN BỊ VÀ NỘP HỒ SƠ.
Đây là bước rất quan trọng, nó khẳng định thành quả công việc của bạn, nếu bạn tìm hiểu học bổng mà không làm hồ sơ thì coi như thành quả lao động của bạn chưa có.
(1) Thời gian chuẩn bị:
Theo tôi, thông thường là 2 năm (tính từ ngày chuẩn bị đến ngày lên đường đi học). Năm đầu tiên bạn chuẩn bị ngôn ngữ (thi một số chứng chỉ cần thiết như TOEFL, GRE ... ) và chuyên môn (đọc tài liệu để có ý tưởng viết SOP và research proposal). Năm thứ 2 bạn chính thức làm hồ sơ và sau khi có kết quả chính thức bạn sẽ làm các thủ tục tiếp theo. Thường các trường nước ngoài nhận sinh viên quốc tế vào tháng 9 hàng năm. Nếu bạn nộp hồ sơ xin học tháng 9 năm nay thì thường là tháng 12 năm trước hoặc tháng 1 là hết hạn nộp hồ sơ, do đó chuẩn bị hồ sơ từ tháng 9 năm trước là hợp lý. Tôi có thể nêu một kế hoạch sơ bộ thế này:
1. Chuẩn bị thi ngoại ngữ : 6 - 12 tháng
2. Đọc tài liệu chuyên ngành (để có ý tưởng viết SOP và đề cương nghiên cứu), tìm hiểu trường, tổ chức cần nộp hồ sơ, cách thức xin học bổng: 6 tháng
3. Chuẩn bị hồ sơ: viết SOP, xin LOR, bảng điểm, hoàn thành các hồ sơ theo yêu cầu: 3-6 tháng.
4. Chờ đợi kết quả, liên hệ tìm hiểu thêm về trường mình nộp hồ sơ, tình hình hồ sơ: 1-3 tháng
5. Làm thủ tục đi học: 3 tháng
Như vậy quãng thời gian 2 năm theo tôi là khá hợp lý.
(2) Trình tự và những chú ý khi làm hồ sơ:
Tôi có thể nêu một trình tự cơ bản như sau:
1. Xác định chuyên ngành và trường cần nộp hồ sơ
2. Hoàn thành hồ sơ
3. Kiểm tra hồ sơ
4. Gửi hồ sơ
5. Theo dõi hồ sơ sau khi gửi
Trong quá trình này bạn nên lưu ý những điểm sau:
Thứ nhất, xác định những chuyên ngành và trường định nộp hồ sơ, sau đó sử dụng bảng xếp hạng các trường đại học theo chuyên ngành để biết nên nộp hồ sơ vào trường nào. Tránh việc chỉ nộp hồ sơ vào những trường mà bạn nghĩ phù hợp với khả năng của mình. Ví dụ, nếu bạn nghĩ mình thể vào được những trường có rank 50-100 thì bạn nên nộp một vài hồ sơ vào những trường trong top 50, một vài hồ sơ vào những trường rank 50-100, vài hồ sơ vào những trường rank 100-200, như vậy sẽ an toàn hơn, vì biết đâu bạn lại được nhận vào trường tốt hơn mong đợi hoặc trong trường hợp không có trường nào mà bạn ưng ý tiếp nhận thì bạn vẫn có cơ hội ở những trường có rank thấp hơn.
Thứ hai, sau khi xác định được những trường cần nộp hồ sơ thì bạn bắt đầu làm hồ sơ. Một bộ hồ sơ sau đại học thường có bảng điểm, bằng, chứng chỉ ngoại ngữ, các chứng chỉ yêu cầu khác như GRE, GMAT, ... , thư giới thiệu (LOR), đề cương nghiên cứu (research proposal) hoặc định hướng nghiên cứu (SOP), bản khai của trường bạn dự định nộp hồ sơ và hồ sơ xin học bổng (nếu bạn muốn xin học bổng). Trong số những giấy tờ nói trên, một số bạn cho rằng bảng điểm, bằng, chứng chỉ ngoại ngữ là quan trọng nhất, tuy nhiên theo tôi, LOR và SOP hoặc Research Proposal là quan trọng nhất vì nó thể hiện cái tôi của bạn lớn nhất.
Thường bạn sẽ đăng ký nhiều trường, do đó bạn cần lập ra một cái bảng, trên đó chia thành nhiều cột, mỗi cột thể hiện một số thông tin cần thiết như deadline, yêu cầu cơ bản, những thủ tục đã hoàn thành, những thủ tục còn thiếu gì. Bảng này nên dán ở nơi dễ nhìn, như vậy bạn có thể kiểm soát những việc mình làm, tránh nhầm lẫn không cần thiết. Ngoài ra, bạn cũng nên xác định cho mình trường nào là trường bạn mong muốn nhất để tập trung sức lực cho nó. Bạn nên làm hồ sơ trường đó trước tiên, và xem đó như form chuẩn cho các trường sau. Tránh việc đầu tư dàn trải, làm hồ sơ trường nào cũng như nhau.
Thứ ba, hồ sơ của bạn phải làm hết sức cẩn thận, tránh sai sót, và phải được nhiều người đọc và cho ý kiến trước khi gửi đi. Tránh việc chỉ có bạn là người duy nhất đọc hồ sơ trước khi gửi đi vì như thế sai sót là khó tránh khỏi. Bạn có thể hình dung như thế này: đầu tiên hồ sơ của bạn sẽ được gửi đến thư ký, thư ký sẽ đọc hồ sơ của bạn, và loại đi những hồ sơ không đạt tiêu chuẩn. Sau bước này hồ sơ của bạn có thể được gửi đến người phụ trách chuyên ngành (thường là các trợ lý cho các giáo sư) xem xét để loại bớt và gửi những hồ sơ xứng đáng cho các giáo sư xem.
Tiếp đến, các giáo sư sẽ xem xét hồ sơ, nếu họ chấp nhận thì coi như bạn có đến 90% cơ hội rồi, sau đó hội đồng tuyển sinh sẽ xem xét và ra quyết định chính thức. Nếu bạn xin học bổng thì tổ chức cấp học bổng sẽ xem xét thêm lần nữa để đưa ra kết quả cuối cùng. Như vậy, qua rất nhiều vòng xét tuyển, hồ sơ của bạn sẽ khó được chấp nhận nếu có sai sót. Hồ sơ của tôi cũng vậy, trước khi gửi đi, được khoảng 10 người đọc và cho ý kiến, trong đó có 2 giáo viên dạy tiếng anh, 2 người cùng chuyên ngành, 2 thầy giáo viết LOR và một số bạn bè tôi đọc. Qua từng người, tôi dần hoàn thiện hồ sơ của mình và tránh được các sai lầm không đáng có.
Thứ tư, hồ sơ của bạn phải thể hiện được cái tôi của bạn, nêu bật được những ưu thế của bạn, và tại sao bạn xứng đáng được nhận học bổng. Hồ sơ của bạn là hình ảnh của bạn trước hội đồng tuyển sinh, vì thế phải có cá tính và phải nhận mạnh, “bạn là người xứng đáng được học bổng vì bạn là người phù hợp với nó chứ không phải vì bạn là người giỏi nên họ phải chọn bạn”. Đây là điều mà tôi rất tâm đắc. Như tôi đã nói ở trên, trong hồ sơ quan trọng nhất là LOR, SOP, Research Proposal vì đây là những thứ trong hồ sơ mà bạn dễ cải thiện nhất và nêu được bạn là ai, bạn cần gì (SOP) và bạn được người khác đánh giá như thế nào (LOR).
Để có một thư giới thiệu tốt (LOR), bạn nên xem giáo sư nào có thể viết thư giới thiệu cho mình, giáo sư nào có thể viết tốt về mình (positive), khi giáo sư viết, bạn nên cho họ xem toàn bộ hồ sơ của bạn để họ có cái nhìn toàn cảnh về nơi bạn định nộp hồ sơ và đặc biệt nên nhờ các giáo sư viết cái gì đó thật cụ thể, đừng có chung chung. Ví dụ như họ viết bạn đã cùng họ làm gì, qua đó họ nhận ra những ưu điểm của bạn sẽ tốt hơn là chỉ viết bạn là một sinh viên giỏi, cần cù, ...
Tôi lấy ra đây một lời khuyên của trường University of California, Berkeley dành cho những thí sinh có ý định nộp hồ sơ vào trường họ để các bạn rút ra kinh nghiệm “Demonstrate everything by example, don’t say directly that you are a persistent person, desmontrate it”. SOP cũng vậy, bạn nên thể hiện mình qua các ví dụ cụ thể để cho SOP là sản phẩm của riêng bạn chứ không phải ai khác. Đừng copy ý tưởng của người khác, vì như thế SOP của bạn sẽ trở nên thiếu chặt chẽ và lủng củng. Về điểm Toefl, GRE ... và điểm GPA, người Việt mình không có thế mạnh lắm, đặc biệt so với các bạn ở Trung Quốc và Hàn quốc.
Vậy làm thế nào để hồ sơ của bạn trở nên ấn tượng và có cá tính? Trước hết bạn hãy lên danh sách những tiêu chí mà theo bạn hội đồng tuyển sinh sẽ dựa vào đó để xét, sau đó bạn tự đánh giá bản thân mình theo tiêu chí đó, xem những tiêu chí nào mình có thể cải thiện được, tiêu chí nào không. Tôi lấy ra đây ví dụ phân tích của một bạn ở Trung Quốc đã nhận được học bổng đi du học ở Mỹ để các bạn có cái nhìn rõ hơn về vấn đề tôi vừa nêu. Sau khi phân tích bạn ấy đã đưa ra các tiêu chí và tự đánh giá như sau:
1. Undergraduate institution (probably unheard of by any of the school I’am applying to)
2. Undergraduate GPA (overall good, but shaky in some specific courses)
3. Recommendation letter (will be written by my professor and hopefully positive)
4. Background and publications in my major (weak and no time for any publications)
5. GRE (unknown)
6. Personal Statement (unknown)
Như vậy, theo bạn đó, rất khó cải thiện 4 tiêu chí đầu tiên, chỉ có 2 tiêu chí sau là có thể cải thiện được hình ảnh của bạn đó trong con mắt hội đồng xét tuyển và bạn đó đã làm theo đúng chiến thuật đề ra.
Qua ví dụ thực tế trên, tôi hi vọng các bạn tìm ra được cho riêng mình một chiến thuật hợp lý để cải thiện hình ảnh các bạn trong con mắt của hội đồng xét tuyển, bởi vì chỉ có bạn mới hiểu rõ bạn nhất, và cũng chỉ có bạn mới biết thể hiện cái tôi của mình hiệu quả nhất, qua đó nâng cao khả năng được tiếp nhận vào học và được học bổng của mình.
Thứ năm, gửi hồ sơ. Bạn nên tính toán để gửi hồ sơ, sao cho hồ sơ đến trường trước deadline sớm hơn khoảng 2 tuần. Vì có thể có một số giấy tờ của bạn bị thất lạc (điểm TOEFL, GRE, rất dễ bị thất lạc hoặc gửi muộn), hoặc một số giấy tờ bạn gửi đi không đạt yêu cầu, sẽ phải gửi lại. Nếu bạn gửi sớm thì bạn có thể gửi thư thường như thế sẽ đỡ tốn kém hơn so với gửi thư nhanh (gửi DHL, EMS). Bạn biết đấy, một bộ hồ sơ gửi đi Nhật nếu gửi thư thường có khi chỉ mất 50 ngàn, nếu gửi nhanh có khi phải mất 300 ngàn. Nếu bạn gửi nhiều hồ sơ thì rõ ràng chi phí này cần phải được cân nhắc.
Thứ sáu, thường xuyên theo dõi tình trạng hồ sơ sau khi hồ sơ đã gửi đi, không nên chỉ ngồi chờ đợi kết quả. Tôi kể ra đây những kinh nghiệm của mình với hi vọng các bạn nhận ra được vai trò quan trọng của việc liên lạc và theo dõi hồ sơ sau khi gửi đi. Thành thật mà nói, đây là quãng thời gian khó chịu, căng thẳng và hồi hộp nhất mà tôi từng trải qua. Tôi vào check email từng ngày, bạn có thể tưởng tượng được là ngày 16/12 tôi nộp hồ sơ (deadline là 24/12), ngày 26/1 năm sau tôi được trường đại học Tổng hợp Tokyo báo là mình vào danh sách shortlist, và phải hoàn thành các thủ tục tiếp theo để gửi hồ sơ làm thủ tục xin học bổng Monbusho (họ cho thời gian có 14 ngày) trong đó gồm cả làm hồ sơ, liên hệ với giáo sư, ... (đúng vào dịp tết âm lịch nhà mình). Vì thế tôi phải co giò 2 chân 4 cẳng mà chạy, xin dấu cũng vào dịp tết. Sau đó tôi lại đợi từ 16/2 đến 1/7 mới có kết quả chính thức được học bổng.
Đến bây giờ nghĩ lại tôi vẫn cứ thấy ớn, trong suốt hơn 4 tháng, ngày nào tôi cũng checkmail để xem hồ sơ đến đâu rồi, thỉnh thoảng lại còn liên hệ với giáo sư. Như vậy bạn có thể thấy, nếu tôi không checkmail và liên hệ với các giáo sư vào dịp tết đó có lẽ tôi đã bỏ lỡ cơ hội có được học bổng Monbusho. Đối với nhiều bạn đã từng được học bổng đi Mỹ, họ cũng chỉ ra rằng liên hệ với các giáo sư trước và sau khi nộp hồ là điều hết cần thiết. Bạn nên nhớ các giáo sư có thể cho bạn biết rất nhiều thông tin nóng hổi và tư vấn cho bạn.
Một số giáo sư còn là cầu nối giữa bạn với hội đồng tuyển sinh, thậm chí họ có thể can thiệp đến kết quả của hội đồng xét tuyển. Vì vậy bạn nên chủ động liên hệ với các giáo sư, đừng nản chí nếu những lần đầu họ từ chối trả lời. Ban đầu tôi cũng rất ngại phải liên hệ với các giáo sư, vì cũng không biết viết như thế nào, viết có đúng văn phong, chính tả và ngữ pháp không, nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc nên phải viết, sau rồi thấy viết cũng đơn giản và trở nên bình thường. Bây giờ nhìn lại những lá thư đầu tôi thấy sao hồi đó mình viết ngô nghê đến vậy (viết cho giáo sư mà cuối thư vẫn viết best regard). Còn về sức mạnh của nó, tôi lấy ra đây ví dụ của mình để các bạn thấy được sức mạnh của những lá thư đó.
Khi tôi đăng ký đi học ở Pháp, trường Paris 12, hồ sơ online của tôi thiếu thông tin, nên bị loại ngay từ vòng xét tuyển online, lúc đó tôi rất bất ngờ vì cứ nghĩ là ổn thoả rồi. Thế rồi tôi nhờ bạn tôi học ở trường bên đó cầm hồ sơ của mình gặp trực tiếp giáo sư phụ trách. Sau khi xem xong hồ sơ, giáo sư nói là ok, nhưng vì họ không hiểu tại sao lý lịch công tác của tôi có gián đoạn (đáng lẽ viết từ năm ... đến nay: làm gì thì theo thói quen tôi viết là năm ... : làm gì), sau khi nghe bạn tôi giải thích giáo sư mới hiểu. Tuy nhiên vì đây là trường hợp đặc biệt nên giáo sư yêu cầu tôi nộp thêm chứng chỉ ngoại ngữ (bước nộp hồ sơ online không cần nộp chứng chỉ ngoại ngữ, qua bước online mới nộp hồ sơ chính thức đến sau) và sẽ thao khảo thêm ý kiến của người đã từng học ở trường tôi hiện đang học bên đó.
Lúc đó, ngoại ngữ tôi đã thi rồi, điểm không cao lắm và nếu thi lại thì cũng không kịp nữa nên tôi đành viết một lá thư cho giáo sư phụ trách, và nói rõ là trước khi đi thi tôi chỉ có ít thời gian học nên kết quả không được như mong muốn, nay tôi đang học lớp ngoại ngữ tăng cường và trình độ ngoại ngữ của tôi giờ đã vượt xa lúc đi thi nên tôi tự tin mình theo học được. Nếu ông cần kiểm chứng tôi sẽ gọi điện cho ông, sau đó tôi viết thêm một lá thư nhờ bạn tôi liên hệ với anh bạn mà giáo sư định thao khảo ý kiến.
Kết quả như bạn thấy đấy, chỉ sau một tuần, tôi nhận được thư chấp nhận của trường, thậm chí không cần gửi thêm hồ sơ đợt sau (hồ sơ chính thức). Tôi đã đảo ngược thế cờ chỉ trong có 1 tuần và cũng chẳng tốn mấy tiền cả. Bạn thấy đấy, nếu không chủ động thì có thể bạn sẽ bỏ lỡ cơ hội của chính mình.
IV. KINH NGHIỆM THI HỌC BỔNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ HỌC BỔNG CHÍNH PHỦ NHẬT
(1) Học bổng ngân sách nhà nước (học bổng theo đề án 322)
Hằng năm, chính phủ Việt Nam dành khoảng 400 suất học bổng để đào tạo cán bộ, công chức tại các cơ sở nước ngoài. Chi tiết về học bổng này có thể tham khảo tại trang web http://www.vosp.org, tôi xin tóm tắt như sau, chỉ có cán bộ, công chức Nhà nước mới được thi học bổng này, ngành tuyển sinh rất đa dạng và bạn được chu cấp toàn bộ các chi phí cơ bản khi đi học ở nước ngoài như tiền vé máy bay đi về, tiền sinh hoạt phí, tiền học phí ... Học bổng này ưu tiên đào tạo bậc sau đại học và được Bộ Giáo dục và Đào tạo uỷ quyền cho các cơ sở đào tạo trong nước tuyển chọn.
Sau khi được các trường uỷ quyền tuyển chọn thông qua thi tuyển, trường sẽ gửi danh sách đề nghị trúng tuyển lên Ban điều hành Đề án 322, ban này sẽ là người ra quyết định cuối cùng. Sau đó các bạn có thể làm các thủ tục đăng ký đi học ở nước ngoài (lúc này mới thực sự tìm trường ở nước ngoài). Kỳ thi tuyển sinh diễn ra cùng với kỳ thi tuyển sinh sau đại học tại các trường được uỷ quyền. Trước tôi thi cao học nên không rõ đề thi nghiên cứu sinh có khác với đề thi trong nước không nhưng đề thi cao học thì giống với đề thi cao học trong nước, chỉ khác mỗi môn thi ngoại ngữ là được tổ chức riêng. Vì thế, bạn có thể tin là đề thi không quá khó. Tuy nhiên, kỳ thi này do các trường trong nước tuyển chọn, nên các giáo viên của cơ sở tuyển chọn có nhiều ưu thế hơn hẳn (truyền thống người Việt Nam ta mà). Theo thống kê như tôi được biết, trong số những người trúng tuyển thì cán bộ và giáo viên của trường được uỷ quyền hầu như lúc nào cũng chiếm đa số. Vì thế khi tham dự kỳ thi này các bạn cần xác định đúng đối thủ thực sự của mình chính là cán bộ và giáo viên của trường được uỷ quyền.
Ngoài ra, những đối thủ đáng chú ý khác chính là giảng viên các trường đại học. Họ là những người làm cùng chuyên ngành, nếu tập trung đúng sức lực, họ sẽ trở thành đối thủ thực sự đáng gờm. Vì vậy, nếu bạn không phải là giảng viên, bạn cần phải nhập cuộc sớm hơn họ, như thế mới hi vọng đạt được mục tiêu của mình. Bản thân tôi cũng vậy, khi tham dự cuộc thi này, tôi đầu tư hơn 6 tháng chỉ để học các môn như toán và môn chuyên ngành (mặc dù đây là hai môn thế mạnh của tôi), vì tôi biết, mình cần phải cố gắng đạt điểm một cách tối đa mới hi vọng có thể vượt qua được các đối thủ chính.
Tôi lấy ví dụ cụ thể như sau, nếu bạn thi chuyên ngành điện tử ở trường đại học Bách khoa Hà Nội thì chắc chắn các giảng viên trẻ ở bộ môn điện tử trường đại học Bách khoa Hà Nội sẽ là người có nhiều ưu thế nhất, tiếp đến là các giảng viên bộ môn điện tử ở các trường có chuyên ngành này. Qua ví dụ trên chắc bạn đã hiểu được ý tôi muốn nói. Tuy vậy, nếu chuẩn bị kỹ, bạn hoàn toàn có thể yên tâm và vững tin. Lợi thế của bạn chính là đề thi dễ, nếu không sai sót trong làm bài thì bạn hoàn toàn có cơ hội. Một điểm cần chú ý nữa là, vì trường trong nước tuyển chọn sơ bộ nên bạn không cần quan tâm đến những thứ như SOP và LOR, chỉ khi được chọn đi học nước ngoài và nộp hồ sơ vào trường ở nước ngoài bạn mới cần quan tâm đến chúng.
Ngoài ra, để tập trung toàn bộ sức lực chiến đấu trong giai đoạn ôn thi chuyên ngành, bạn nên có chứng chỉ ngoại ngữ trước khi đi thi (đi Mỹ, Anh, Úc, Canada: toefl 550 hoặc tương đương, đi các nước khác: toefl 500 hoặc tương đương) vì như thế bạn sẽ được miễn thi môn ngoại ngữ. Đừng để ngoại ngữ trở thành rào cản của bạn. Các bạn có thể sử dụng Toefl nội bộ cũng được miễn là còn giá trị.
Qua những phân tích trên, bạn có thể thấy, kỳ thi này không khó, vậy tại sao các bạn không thử nhỉ?
(2) Học bổng Chính phủ Nhật (Học bổng Monbusho hay còn gọi là học bổng Mext)
Hằng năm, chính phủ Nhật đều dành một số lượng lớn học bổng cho các sinh viên quốc tế đến học tại Nhật Bản, trong đó có sinh viên Việt Nam. Để tiếp cận học bổng này, có 2 cách: thứ nhất là thông qua Đại sứ quán Nhật và Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, thứ hai là thông qua các trường đại học ở Nhật. Chi tiết các bạn có thể tham khảo tại trang web http://www.jasso.jp hoặc http://www.vysa.jp. Trước tôi đi theo con đường thứ 2 nên những kinh nghiệm của tôi ở đây thuần tuý theo con đường này.
Để xin học bổng Monbusho theo diện đại học tiến cử (University Recommendation) bạn cần phải nộp hồ sơ qua một trường đại học ở Nhật, sau khi được trường đó chấp thuận (bạn được vào danh sách shortlist), trường sẽ gửi danh sách đề nghị được học bổng Monbusho lên Bộ Giáo dục Nhật Bản, và bộ là người quyết định cuối cùng. Tuy nhiên, thường là các trường có số chỉ tiêu cố định hằng năm, và họ gửi danh sách đúng bằng số chỉ tiêu mà họ có, nên nếu được trường đồng ý thì gần như chắc chắn bạn sẽ được học bổng, còn Bộ Giáo dục Nhật Bản gần như chỉ xét duyệt về mặt thủ tục. Vì vậy để kiếm được học bổng theo con đường này, bạn cần phải chinh phục được trường ở bên Nhật.
Cách thức để chinh phục được học bổng này về cơ bản giống với các kinh nghiệm mà tôi đã trình bày ở trên, ở đây tôi chỉ nhấn mạnh thêm một vài ý như sau. Thứ nhất là về LOR, thường các bạn nhờ giáo viên của mình viết cho, tuy nhiên trong trường hợp này, nếu người viết LOR cho bạn là một cựu sinh viên của trường định nộp thì rất tốt, và phải là người hiểu rõ về bạn. Người Nhật đánh giá cao các mối quan hệ cá nhân như thế, họ sẽ liên hệ trực tiếp đến người giới thiệu bạn để xem họ đánh giá như thế nào về bạn. Đối với họ, đây là cách đánh giá công tâm, hiệu quả (không như người Việt Nam mình, hay nể nả nhau). Không nên nhờ những người không hiểu về chuyên ngành bạn hoặc không rõ về bạn viết thư giới thiệu, dù người đó rất giỏi hoặc có chức vị cao.
Ngoài ra, như tôi đã nói ở trên, nếu bạn làm quen được với giáo sư ở trường bên kia và được họ viết LOR cho thì hết sức thuận lợi, trong trường hợp họ đồng ý nhận bạn thì có nghĩa là bạn có đến 90% cơ hội. Thứ 2 là SOP hay Research Proposal, về cơ bản cả 2 thứ này đều thể hiện khả năng nghiên cứu của bạn. Tuy nhiên, người Nhật thường thích cái gì đó cụ thể, vì thế sẽ thích hợp hơn nếu thể hiện khả năng nghiên cứu của bạn thông qua việc áp dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó mà bạn dự định làm (Research Proposal) hơn là hơn là nói về khả năng nghiên cứu, cách thức giải quyết các vấn đề , định hướng nghiên cứu (SOP).
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi trong quá trình săn học bổng, vì vậy không thể tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn. Hi vọng các bạn tìm được cho mình những thông tin bổ ích và thiết thực. Tôi cầu chúc những bạn có mong muốn đi học ở nước ngoài thành công trên con đường săn học bổng và may mắn.
Trong trường hợp các bạn có thắc mắc và thuộc phạm vi hiểu biết của mình, tôi hứa sẽ giúp đỡ một cách nhiệt tình, và tôi cũng mong những bạn đã có học bổng hãy dành chút thì giờ giúp đỡ những bạn đang tìm kiếm học bổng để dân Việt Nam mình có thể tự hào với các dân tộc khác về truyền thống hiếu học và tinh thần đoàn kết.
Trích Kinh nghiệm của thanhegc - University of Tokyo
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)